Reverse Logistics là gì? Những khái niệm cơ bản về Hậu cần ngược

0

Hầu hết mọi người đều xem Logistics như một hoạt động liên quan đến việc phân phối và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng phải đảm bảo vận hành tốt một hoạt động Logistics theo hướng ngược lại: từ nơi tiêu thụ cuối cùng đến nơi sản xuất. Hoạt động này được gọi là Reverse Logistics.

Rủi ro có thể xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình sản xuất cũng như khi đưa sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng của doanh nghiệp. Giả sử, nếu doanh nghiệp phát hiện rằng lô sản phẩm trên thị trường do mình sản xuất không đủ tiêu chuẩn và chất lượng đã đề ra trước đó, thì để đảm bảo uy tín của mình, doanh nghiệp phải thu hồi sản phẩm, tân trang lại hoặc tái sản xuất. Những hành động này nên và thường được thực hiện trước khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Đây là một ví dụ về hoạt động Reverse Logistics –  một trong những hoạt động quan trọng và được xem là không thể thiếu trong việc giúp doanh nghiệp hoàn thành được nhiệm vụ quản lý chuỗi cung ứng một cách hiệu quả.

Vậy Reverse Logistics là gì? Hãy để LSC giúp bạn có được cái nhìn tổng quan nhất về hoạt động Logistics ngược nhé.

1. Khái niệm Reverse Logistics

Reverse Logistics (hay còn gọi là Logistics ngược hay Logistics thu hồi) là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả dòng chảy của nguyên liệu, bán thành phẩm và thông tin có liên quan từ các điểm tiêu thụ đến điểm xuất xứ với mục đích thu hồi lại giá trị hoặc xử lý một cách thích hợp.  Nói một cách khác, Reverse Logistics bao hàm tất cả các hoạt động liên quan đến việc thu hồi, sửa chữa, bảo trì, nâng cấp và tái chế sản phẩm hay vật liệu khi chúng bị hư hỏng và không thể đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng.

2. Tầm quan trọng của Reverse Logistics

Theo một báo cáo của WTO năm 2017, Chi phí Reverse Logistics chiếm từ 0,5% đến 1% trong tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, gần 54% người tiêu dùng ngại mua hàng hóa trên mạng nói chung và các trang web mua sắm trực tuyến nói riêng vì quá trình đổi trả hàng rất khó khăn và phức tạp. Mặt khác, chi phí thực hiện việc thu hồi hàng hóa có thể cao từ 2 đến 3 lần so với việc xuất khẩu hàng đi nước ngoài.

Reverse Logistics giúp đẩy mạnh Logistics Xuôi. Trong quá trình vận hành Logistics Xuôi, khi sản phẩm được phân phối đến nơi tiêu thụ và bị hoàn trả lại vì nhiều lý do, thì vai trò của Logistics Thu Hồi trở nên vô cùng quan trọng khi nó giúp cho các sản phẩm vật liệu được sửa chữa và phục hồi nhanh chóng để đưa về kênh Logistics Xuôi một cách kịp thời, hiệu quả.

Một kênh Reverse Logistics thành công còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí kinh doanh bởi lẽ doanh nghiệp sẽ tính toán được khoảng cách thu hồi hàng hóa tối thiểu từ đó cắt giảm tối đa chi phí thu hồi hàng hóa. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có một số nguồn thu khác từ việc tái chế hoặc tái sử dụng bao bì, giữ lại những bộ phận còn sử dụng được của sản phẩm đã bị loại bỏ hay bán lại những sản phẩm đã qua sử dụng.

Reverse Logistics giúp tạo thiện cảm của khách hàng đối với doanh nghiệp.  Khách hàng sẽ hài lòng với dịch vụ của công ty khi sản phẩm của họ được sửa chữa và bảo dưỡng đúng thời hạn.

3. Các bước xây dựng quá trình Reverse Logistics hiệu quả

Một quá trình Reverse Logistics thành công nên được xây dựng qua 8 bước sau:

  • Phân tích lý do tại sao sản phẩm bị trả lại và dự kiến chi tiết quá trình thu hồi sản phẩm.
  • Dự kiến chi tiết chi phí thu hồi sản phẩm.
  • Tìm hiểu mong đợi của khách hàng về tốc độ thu hồi sản phẩm.
  • Kiểm tra lại những nguyên liệu dùng để sản xuất ra sản phẩm bị thu hồi, đáp ứng đơn đặt hàng của khách hàng dựa theo kế hoạch thu hồi.
  • Ngăn chặn các vấn đề phát sinh trong yêu cầu, chức năng và số liệu kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Đánh giá tất cả các lựa chọn thu hồi trước khi chọn một bên cung ứng thứ ba.
  • So sánh tất cả các lựa chọn  thu hồi khả thi với yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, và kiểm tra lại các số liệu tham khảo từ các nhà cung ứng khác.

Đánh giá các lựa chọn thay thế khác, kết hợp với vòng đời sản phẩm và khả năng tín dụng của khách hàng.

3. Phân loại

Dựa vào cấu trúc, chuỗi cung ứng ngược gồm 2 loại chính: Centralized Structure (Tập trung) và Decentralized Structure (Phi tập trung).

3.1. Centralized Structure (Cấu trúc tập trung)

Chuỗi cung ứng ngược tập trung

Điểm chính trong hệ thống này là những hoạt động thu thập thông tin, kiểm soát và phân loại đều được tập trung trong một tổ chức, công ty. Quá trình xử lí vật lí có thể diễn ra ở cùng một tổ chức, công ty hay tại công ty khác. Có thể lấy một ví dụ về loại mô hình này thông qua vòng lặp khép kín chuỗi cung ứng của IBM – International Business Machines, là một tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia có trụ sở tại Armonk, New York, Mỹ.

Ở đây các mặt hàng được trả lại gồm máy tính cá nhân, máy tính xách tay và máy in. Những sản phẩm này được sử dụng để làm nguồn cung cho phụ tùng. Tính hiệu quả ở đây có thể được cải thiện bởi một số sản phẩm được trả lại thông qua một tập đoàn công nghiệp.

Vì vậy, trong ví dụ này, bước đầu tiên là lấy lại máy photocopy từ khách hàng, sản phẩm sau đó sẽ đóng vai trò là nguyên liệu đầu vào cho quá trình tái sản xuất. Máy photocopy được thu hồi  sẽ được trả lại cho một trong bốn trung tâm logistics thu hồi tập trung. Tại đây, chúng sẽ được kiểm tra, xử lí và phân thành 4 mức độ.

Mức độ thứ nhất là sửa chữa, thứ hai là tái sản xuất, thứ ba là tái sản xuất một phần và thứ tư là tái chế. Trong cấp độ sửa chữa và tái sản xuất, chúng sẽ được phân phối lại cho khách hàng thông qua chuỗi cung ứng chuyển tiếp truyền thống. Lợi ích tài chính của thiết bị tái sản xuất và các bộ phận được tái sử dụng có thể lên đến vài trăm triệu đô la một năm.

3.2. Decentralized Structure (Cấu trúc phi tập trung)

Chuỗi cung ứng ngược phi tập trung

Mô hình này bắt đầu từ bên trái nơi các sản phẩm hoặc mặt hàng đi vào chuỗi cung ứng ngược ở cấp độ bán lẻ. Sau đó, các cửa hàng cụ thể sẽ đóng vai trò như một người gác cổng (có nhiệm vụ kiểm tra thông tin đi vào). Bộ phận này đánh giá sản phẩm và sau đó gửi đến một trong ba bộ phận liên quan gồm restock (bổ sung), test and repair facility (thử nghiệm và sửa chữa), scrap (loại bỏ).

Để xác định tình trạng sản phẩm, cần có các nguyên tắc cụ thể cũng như các kĩ năng cục bộ để có thể thực hiện việc kiểm tra ban đầu, đặc biệt là cần cơ sở hạ tầng logistics để đưa các mặt hàng hoặc sản phẩm vào hoạt động. Một ưu thế của loại mô hình này là các sản phẩm và vật phẩm có thể được gửi trực tiếp đến chính xác bộ phận cải thiện mà nó cần. Mô hình này ủng hộ các chiến lược dựa trên thời gian, hỗ trợ các nỗ lực cải tạo giá trị chẳng hạn như tân trang lại các sản phẩm có giá trị cao.

4. Chuỗi cung ứng ngược trong ngành công nghiệp nhựa

Nhựa là một phần quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống thế kỷ XXI. Chúng không chỉ cung cấp cho chúng ta các sản phẩm hữu ích, nhẹ và bền, mà còn đóng vai trò chính trong sự phát triển bền vững của thế giới chúng ta. Mọi hoạt động trong cuộc sống hiện đại đều chịu ảnh hưởng của nhựa và nhiều người phụ thuộc hoàn toàn vào các sản phẩm nhựa. Vì vậy, việc sử dụng hiệu quả chuỗi cung ứng ngược trong các sản phẩm nhựa có vai trò rất quan trọng.

Trong vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng ngược, tái chế là sự lựa chọn tối ưu nhất đối với các sản phẩm nhựa sau lần sử dụng đầu tiên. Hầu hết nhựa tái chế là từ các lĩnh vực thương mại và công nghiệp, với các chai được thu hồi từ các nguồn trong nước.

Chỉ thị Khung chất thải sửa đổi (WFD) cung cấp một mô hình để thúc đẩy các hoạt động quản lý chất thải ở EU. Nền tảng của Chỉ thị này là sự thừa nhận hệ thống phân cấp chất thải 5 bước như một thứ tự ưu tiên được áp dụng linh hoạt bằng cách sử dụng tư duy vòng đời để cho phép mỗi dòng chất thải được xử lý theo cách tốt nhất về môi trường, xem xét về khía cạnh kinh tế và tính khả thi kỹ thuật. Hệ thống phân cấp để cải thiện hiệu quả tài nguyên có   thứ tự ưu tiên giảm dần như sau: 1) giảm, 2) tái sử dụng, 3) tái chế, 4) phục hồi và 5) xử lý. Cách tiếp cận hiệu quả nhất về tài nguyên là không tạo ra chất thải ngay từ đầu hoặc tạo ra càng ít càng tốt. Lựa chọn tiếp theo là tái sử dụng (sử dụng lại một lần nữa). Nếu việc tái sử dụng là không khả thi thì các sản phẩm nên được tái chế, với điều kiện là nó hiệu quả về mặt sinh thái từ góc độ vòng đời hơn là phương án phục hồi. Phương án cuối cùng là xử lý, một điều cần được giảm thiểu.

Ngành nhựa đã phát triển tầm nhìn dài hạn của riêng mình để quản lý chất thải. Mục tiêu quan trọng của các nhà sản xuất nhựa là giảm tác động của chất thải nhựa đến môi trường bằng cách:

– Chuyển dòng chất thải giàu hữu cơ ra khỏi bãi rác càng nhiều càng tốt và do đó, bảo tồn các nguồn tài nguyên chính;

– Sử dụng kết hợp các tùy chọn khôi phục để tiết kiệm tài nguyên năng lượng, tính đến hiệu quả sinh thái;

– Xử lý và thu hồi các dòng chất thải nhựa theo tiêu chuẩn chất lượng môi trường được xác định;

– Tiếp cận toàn diện tất cả các giai đoạn của vòng đời sản phẩm nhựa để tạo ra lợi ích môi trường lớn nhất có thể đạt được trong giai đoạn sử dụng sản phẩm nhựa.

Biên tập LSC

Lễ Công bố Báo cáo Tình hình Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2018

0

Vừa qua vào ngày 10/04, tại thành phố cảng Đà Nẵng, Lễ công bố Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam trong năm 2018 đã được Bộ Công thương tổ chức nhằm cung cấp cho các Bộ ngành địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu cũng như các độc giả một bức tranh tổng thể về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm vừa rồi.

Bộ Công Thương đã tổ chức Lễ công bố Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2018, một ấn phẩm phát hành thường niên vào ngày 10/4 vừa qua.
Bộ Công Thương đã tổ chức Lễ công bố Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2018, một ấn phẩm phát hành thường niên vào ngày 10/4 vừa qua.

Tại lễ công bố với sự hiện diện đông đảo cúa các đại diện đến từ Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông, …), các địa phương, Phòng thương mại và Công nghiệp VCCI, các Hiệp hội ngành hàng, cộng đồng doanh nghiệp miền Trung cùng gần 30 nhà báo thuộc các cơ quan thông tấn báo chí trên khắp cả nước.

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam, ông Trần Thanh Hải, đã trình bày bức tranh tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2018, đồng thời đưa ra tóm tắt sơ lược nội dung chính của Báo cáo Xuất nhập khẩu năm 2018 cùng những điểm mới so với báo cáo kỳ trước.

Ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam phát biểu tại buổi lễ

Ông đã nhấn mạnh năm 2018 tiếp tục được coi là một năm thành công của xuất nhập khẩu Việt Nam với việc tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 480 tỷ USD, tăng 11,1% so với năm 2017, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 243,5 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017, vượt xa chỉ tiêu kế hoạch được Quốc hội và Chính phủ giao, và xuất siêu năm 2018 đạt con số kỷ lục gần 6,8 tỷ USD. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và thặng dư cán cân thương mại trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực diễn biến hết sức phức tạp, khó đoán định và xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng đã góp phần nâng cao dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá và ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế cũng như cho thấy nỗ lực rất lớn của Chính phủ trong chỉ đạo điều hành và của các doanh nghiệp trong sản xuất xuất khẩu.

Theo Ông Nguyễn Hữu Quý – Tổng Biên tập Báo Công Thương, Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập Báo cáo, trong những năm gần đây, nhu cầu cần nguồn thông tin rõ ràng, có hệ thống và minh bạch là vấn đề được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách rất quan tâm và đặt ra. Việc thông qua Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy cho phép những người sử dụng thông tin có thể dự báo, đánh giá về tình hình và hiệu quả của các hoạt động ngoại thương. Khi các thông tin về chính sách, thông tin thị trường xuất nhập khẩu, chiến lược phát triển xuất nhập khẩu được công bố rõ ràng, chính thống và minh bạch sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, trợ giúp công tác hoạch định, xây dựng cơ chế chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước; tăng khả năng tiếp cận thị trường và hỗ trợ các doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả hơn, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Theo đánh giá của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp tại Lễ công bố, ấn phẩm Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam qua các năm đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hội nhập toàn cầu của Việt Nam, được coi là cuốn cẩm nang đồng hành trong việc nghiên cứu, tham khảo thông tin, định hướng phát triển và có tính ứng dụng cao. Các đại biểu cũng đã đưa ra các góp ý, nhận xét thẳng thắn và hữu ích về nội dung của Báo cáo tới Hội đồng Biên tập và mong muốn đón chờ Báo cáo được xuất bản trong những năm tiếp theo.

Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam do Cục Xuất nhập khẩu phối hợp với Báo Công Thương, các đơn vị thuộc Bộ và Tổng cục Hải quan biên tập được công bố và xuất bản lần đầu vào tháng 3 năm 2017; tiếp tục xuất bản vào các năm 2018, 2019 đã và đang được công chúng đón nhận, được các nhà quản lý và đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh lực xuất nhập khẩu đánh giá cao, là cơ sở để Bộ Công Thương tiếp tục xuất bản thường niên Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Nếu bạn quan tâm đến tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2018 với những số liệu chân thực nhất, bạn có thể tải về Báo cáo tình hình Xuất nhập khẩu Việt Nam 2018 tại đây.

Theo Cục Xuất nhập khẩu / vlr.vn

SCMission 2019: Hướng dẫn nội dung thi vòng 2

0

NHỮNG HƯỚNG DẪN CĂN BẢN VỀ VÒNG THI OFF SITE SCMISSION 2018

Để giúp các đội thi có được sự chuẩn bị tốt nhất cho Vòng 2, BTC SCMission 2019 xin được công bố nội dung thi buổi offline như sau:

TEST 1: Inventory and production management (Thời lượng: 1h30)

  • Nội dung: Các đội sẽ có dữ liệu về nhu cầu của khách hàng, từ đó đưa ra chính sách tồn kho hợp lý nhằm đáp ứng được Mức độ dịch vụ (Customer Service Level) đã được đưa ra đồng thời tối ưu hóa tổng chi phí tồn kho của công ty.

Ngoài ra, các đội cần lập ra một kế hoạch sản xuất để phục vụ các mục tiêu về đáp ứng nhu cầu của khách hàng và giảm chi phí trong sản xuất.

  • Cách chấm: Điểm của các đội sẽ dựa trên tổng chi phí và khả năng đáp ứng Mức độ dịch vụ khách hàng yêu cầu.

TEST 2: Logistics Reverse Network design (Thời lượng: 1h30)

  • Nội dung: Các đội sẽ thực hiện một dự án Sustainability liên quan đến Reverse Logistics, theo đó thu gom các chai nhựa từ khách hàng về địa điểm tái chế. Mỗi đội sẽ được cung cấp dữ liệu liên quan trên file excel và sau đó sử dụng các công cụ, công thức tính toán để giải quyết bài toán thiết kế mạng lưới Reverse Logistics sao cho tối ưu hóa được chi phí và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
  • Cách chấm: Điểm các đội sẽ dựa vào độ chính xác khi lựa chọn, tìm ra địa điểm thu gom. Ngoài ra, còn cần quan tâm đến tổng chi phí đã là tối ưu hay chưa để đưa ra số điểm phù hợp.

Hình thức:

  •        Thi bằng laptop cá nhân. Mỗi đội được nhận 1 USB chứa nội dung đề thi.
  •        Không được sử dụng kết nối internet trong lúc thi.

Mọi thông tin chi tiết hay thắc mắc xin vui lòng liên hệ:

    ☎ Trưởng BTC: Ms. Lưu Bảo Trân

Hotline: 0935 354 557
Email: baotran.luu.lsc@gmail.com

    ☎ Trưởng mảng Operation: Mr. Nguyễn Văn Mãnh

Hotline: 0372 889 484
Email: vanmanh.nguyen.lsc@gmail.com

[Ảnh] Khai mạc cuộc thi SCMission 2019

0
Toàn cảnh ngày khai mạc của cuộc thi SCMission 2019 do câu lạc bộ Logistics trường Đại học Ngoại thương cơ sở 2 tổ chức.
Toàn cảnh ngày khai mạc của cuộc thi SCMission 2019 do câu lạc bộ Logistics trường Đại học Ngoại thương cơ sở 2 tổ chức.

Sau nhiều sự chờ đợi, Opening Day SCMission 2019 đã chính thức khai phát súng đầu tiên vào chủ nhật ngày 31/03 vừa qua với sự tham gia đầy háo hức của các bạn sinh viên và phần trình bày từ BTC.

Mọi công đoạn chuẩn bị được gấp rút hoàn tất trước giờ diễn ra buổi lễ khai mạc.

Với phần công bố thông tin về cuộc thi cũng như thể lệ các vòng thi. Ban tổ chức SCMission đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về thể lệ cũng như các thay đổi cơ bản của SCMission 2019 so với các mùa trước.

Một bạn thí sinh đang đặt câu hỏi về cuộc thi với ban tổ chức.

Tiếp theo chương trình là phần phát biểu và chia sẻ của đại diện CEL Consulting – Đối tác chiến lược, Coca-Cola Việt Nam – Nhà tài trợ Kim cương và Kuehne + Nagel Việt Nam – Nhà tài trợ Kim cương – các đơn vị chính đồng hành cùng SCMission 2019.

Chương trình ngày chủ nhật của LSC cũng rất vinh hạnh được chào đón sự có mặt của thầy Eckart Dutz. Thầy là một trong những gương mặt khá thân quen vì đã từng xuất hiện trong nhiều sự kiện từ trước đến nay của LSC, cả bên ngoài lẫn chương trình nội bộ. Thầy đã mang đến những lời giảng chuyên sâu về case study của IKEA, một trong những tập đoàn nội thất có cách tiếp cận rất đặc biệt về phát triển bền vững và trách nhiệm cộng đồng.

Thầy Eckart Dutz đang trình bày case study IKEA cho các bạn thí sinh tham gia buổi Opening Day.

Trong phần panel discussion, lần lượt đại diện đến từ Coca-cola Việt Nam – chị Trần Ngọc Vân Anh, Kuehne Nagel Việt Nam – chị Vương Thị Kim Ngân, và thầy Eckart Dutz đã lần lượt chia sẻ những quan điểm của mình về chủ đề “Tính bền vững trong Chuỗi cung ứng”. Cuộc thảo luận sôi nổi giữa ba vị khách mời cùng với những quan điểm đa dạng đã làm cả hội trường trở nên hứng thú.

Chị Vân Anh (National Planning and Logistics manager Coca-cola Viet Nam) sử dụng công cụ ly nhựa làm ví dụ trực quan cho nhận định của mình.

Chị Trần Ngọc Vân Anh, Đại diện Coca-Cola Việt Nam cho rằng: “Bảo vệ môi trường hay hạn chế rác thải nhựa là những lời kêu gọi rất quen thuộc… Theo tôi, chúng ta cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất. Từ việc giảm thải bao bì ni-lon, chai nhựa hay chính ly cà phê các bạn dùng hàng ngày. Và logistics cũng vậy, chúng ta bắt đầu từ những việc nhỏ nhất”.

Cũng đồng tình với quan điểm của chị Vân Anh, song, chị Vương Thị Kim Ngân cũng nêu thêm quan điểm về việc tái chế rác thải và chia sẻ thêm về chiến lược giảm thiểu năng lượng tiêu thụ cho đội xe của công ty cũng khiến các bạn sinh viên trở nên tò mò và thú vị về cách làm độc lạ này.

Thầy Eckart Dutz cuối cùng đã khuyên nhủ các bạn sinh viên nên có một cách học tập thực tế hơn, trải nghiệm nhiều hơn để có thể vận dụng thuần thục những kiến thức khô khan được truyền đạt trên giảng đường. Và thầy cho rằng tham gia vào những cuộc thi như SCMission sẽ là cơ hội tuyệt vời để các bạn sinh viên có thể trải nghiệm thực tế.

Các bạn thí sinh đang cùng tham gia vào minigame “Ring the Golden Bell” do LSC chuẩn bị từ trước.

Mọi thông tin chi tiết hay thắc mắc xin vui lòng liên hệ:

    ☎ Trưởng BTC: Ms. Lưu Bảo Trân

Hotline: 0935 354 557
Email: baotran.luu.lsc@gmail.com

    ☎ Trưởng mảng Operation: Mr. Nguyễn Văn Mãnh

Hotline: 0372 889 484
Email: vanmanh.nguyen.lsc@gmail.com

Opening Day – phát súng đầu tiên cho SCMission Contest 2019

0
SCMission là một cuộc thi có quy mô toàn thành dành cho các sinh viên có đam mê về lĩnh vực Quản lý Chuỗi cung ứng. Trải qua hai mùa thi thành công, sự trở lại của mùa thứ ba hứa hẹn sẽ đem đến cho các bạn một sân chơi hấp dẫn, bổ ích và chứa đựng nhiều điều bất ngờ.

Chủ đề cuộc thi

Năm nay, nội dung cuộc thi sẽ xoay quanh chủ đề SUSTAINABILITY IN SUPPLY CHAIN – Bền vững trong Chuỗi cung ứng. Qua cuộc thi, các bạn sẽ được tiếp cận những kiến thức lý thú từ cơ bản tới chuyên sâu về quản lý chuỗi cung ứng bền vững – một lĩnh vực đang được ngày càng nhiều doanh nghiệp trên toàn cầu quan tâm và áp dụng.
Và để thí sinh và những bạn có hứng thú với ngành Logistics và Supply Chain Management có thể hiểu hơn về thực tế và tầm ảnh hưởng của doanh nghiệp với xã hội, đồng thời hiểu rõ những cơ hội thiết thực mà cuộc thi mang lại, BTC cuộc thi SCMission đã quyết định tổ chức buổi khai mạc cuộc thi Opening Day.

Opening Day – phát súng đầu tiên

>> Đăng ký tham dự Opening Day ngay hôm nay

Ngoài việc giới thiệu sơ lược về nội dung thi, các vòng thi, thể lệ thi các vòng cùng với chủ đề cuộc thi năm 2019: Sustainability in Supply Chain, Opening Day cũng vinh dự nhận được sự góp mặt của ba chuyên gia với ba cái nhìn khác nhau về ngành tham gia sự kiện này.

Sự trở lại của một gương mặt thân thuộc

Thầy Eckart nhận bằng tiến sĩ quản lý chuỗi cung ứng từ Đại học Mannheim (Đức) và bằng Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh cũng như bằng Thạc sỹ sau đại học (Lic.rer.pol.) về Kinh tế Quốc tế.

Thầy là người đã sáng lập ra “Viet Nam Supply Chain” (www.vietnamsupplychain.com), Cố vấn cho Hội đồng chuỗi cung ứng Việt Nam và Câu lạc bộ Sourcing & Purchasing. Hiện nay thầy cũng đang là giảng viên ngành Quản trị kinh doanh tại Đại học RMIT.

Với những kinh nghiệm làm việc ở nhiều vị trí khác nhau trong chuỗi cung ứng tại Unilever, Tổng giám đốc của Pacific Partners Vietnam, … thầy Eckart sẽ mang đến những chia sẻ về chủ đề thú vị xoay quanh chuỗi cung ứng bền vững trong nền kinh tế.

Lộ diện gương mặt diễn giả cực khủng từ doanh nghiệp

Bên cạnh thầy Eckart sẽ là hai vị chuyên gia đến từ hai doanh nghiệp hoạt động trên hai lĩnh vực khác nhau.

Chị Trần Ngọc Vân Anh – Trường phòng Kế hoạch và Logistics (National Planning and Logistics Manager) toàn quốc đến từ Công ty TNHH Nước giải khát Coca- Cola Việt Nam.

Chị đã có 6 năm kinh nghiệm làm việc tại Coca-Cola và đã từng giữ những chức vụ quan trọng như Quản lý danh mục (Category Manager) và Quản lý danh mục đóng gói (Category Packaging Manager)

Ngoài việc là cử nhân ưu tú ngành Nghiên cứu đại cương trường Đại học Luật TPHCM, chị Ngân còn có bằng Thạc sĩ quản trị kinh doanh tại trường Đại học Lincoln ở California, Mỹ.

Trước khi đến với công ty Kuehne + Nagel, chị Ngân đã trải nghiệm rất nhiều vị trí trong ngành Logistics như Sale, Planning, Commercial và hiện nay chị đã có hơn 12 năm kinh nghiệm làm việc tại Kuehne + Nagel.

>> Đăng ký tham dự Opening Day – SCMission 2019 ngay hôm nay

CSR là gì? Tầm quan trọng của CSR đối với nền kinh tế

0

Nhiều doanh nghiệp ngày nay đang vận hành và lấy mục tiêu cải tạo môi trường, xã hội làm kim chỉ nam cho định hướng phát triển. Không giống như truyền thống chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận tài chính, các công ty hiện đang khẳng định nhiều hơn trách nhiệm của mình đối với cộng đồng.

CSR (Viết tắt của từ: Corporate Social Responsibility - tạm dịch Trách nhiệm Xã hội của doanh nghiệp)
CSR (Viết tắt của từ: Corporate Social Responsibility – tạm dịch Trách nhiệm Xã hội của doanh nghiệp)

Các cơ quan chính phủ, công nhân và nhiều khách hàng hiện đang ngày càng gia tăng nhu cầu giám sát, duy trì và tìm hiểu những chuẩn mực trong hoạt động kinh doanh của một số những tập đoàn lớn.

Đối với nhiều lãnh đạo doanh nghiệp, CSR – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được xem là một trong những cách thức để tạo ra lợi thế cạnh tranh, bảo vệ và nâng cao nhận biết thương hiệu, gây dựng lòng tin trong cả khách hàng lẫn nhân viên công ty.

CSR là gì?

Định nghĩa: CSR (Viết tắt của từ: Corporate Social Responsibility – tạm dịch Trách nhiệm Xã hội của doanh nghiệp) là một biện pháp tích hợp các chương trình, chính sách phù hợp vào trong văn hóa và mô hình kinh doanh của một tập đoàn.

CSR hướng tới tăng trưởng lợi nhuận dài hạn cho cả hai mảng kinh doanh online và offline bằng cách tăng năng suất, cải thiện mô hình kinh doanh để thu hút sự chú ý của cộng đồng vào những nỗ lực của doanh nghiệp để tạo ra giá trị. Những nỗ lực này có thể được thể hiện trực quan qua các báo cáo CSR thường niên của các tập đoàn lớn

Tầm quan trọng của CSR với doanh nghiệp

Cả hai loại hình doanh nghiệp thương mại điện tử và truyền thống đều sẽ thu lợi từ các chiến lược CSR hợp lý. Một số hoạt động được cho là phù hợp với khái niệm CSR bao gồm:

  • Ngăn chặn hiện tượng phân nhánh tài chính: Tuân thủ theo tinh thần và các điều khoản của pháp luật – cả quốc gia và quốc tế – bằng các chương trình tự điều chỉnh sẽ giúp doanh nghiệp thoát khỏi “con mắt xanh” của các nhà quản lý, đồng thời giản thiểu chi phí pháp lý.
  • Duy trì sự trung thành của nhân viên: Đối xử công bằng và rộng lượng với tất cả các nhân viên là một trong những trách nhiệm chính của một doanh nghiệp. Bằng cách cung cấp việc làm ổn định, khuyến khích chuyên môn hóa và lập ra những quy chuẩn đạo đức, ông chủ sẽ dễ  dàng chiếm được cảm tình của công nhân.
  • Duy trì hình ảnh tốt đẹp: Tăng nhận thức của người dùng, nhiều lĩnh vực kinh doanh thậm chí có thể tăng sự tín nhiệm cộng đồng bằng cách cung cấp những bằng chứng hữu hình về hoạt động của mình. Hình thức này có thể bao gồm:
    • Nhận thức về môi trường: Giảm thiểu chất thải, tái chế, giảm hàm lượng carbon trong khí quyển, và nhiều phương thức khác. Sử dụng hoặc sản xuất những sản phẩm bền vững, giảm thiểu hao tổn năng lượng và tiên phòng trong bảo vệ môi trường có thể giúp doanh nghiệp gây dựng “hình ảnh xanh” trong tâm trí của những khách hàng khó tính nhất.
    • Nhận thức về xã hội: Chung tay đấu tranh xóa đói giảm nghèo, giúp các bệnh nhân tại các vùng dịch AIDS hay Ebola, hoặc là hỗ trợ nhân đạo cho những nơi vừa bị thiên tai tàn phá. Bằng cách quan tâm đến nhưng vấn đề cộng đồng, khách hàng sẽ dần có thiện cảm và công nhận nỗ lực của doanh nghiệp.
    • Cộng đồng địa phương: Doanh nghiệp có thể tham gia vào các dự án cộng đồng địa phương bằng các hình thức như quyên góp tài chính, phong trào công sở, kết nối khách hàng với các lãnh đạo dự án, xúc tiến dự án hoặc gây quỹ cho dự án CSR của doanh nghiệp

Các bên liên quan trong CSR

Những bên liên quan trong khái niệm CSR bao gồm các cá nhân và nhóm mà có liên quan và tạo ra ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là những nhóm người có thể dễ bị tác động nhất bởi những động thái của công ty. Tùy vào những nhóm đối tượng khác nhau mà có thể áp dụng các chiến lược CSR khác nhau, ví dụ:

  • Khách hàng – ví dụ: tạo dựng các mối quan hệ tốt và gần gũi bằng những chính sách chăm sóc khách hàng thân thiện.
  • Nhà cung cấp – ví dụ: hợp tác với những đối tác cung cấp có tính chọn lọc, nên đánh giá theo các tiêu chí: lao động, sức khỏe, an toàn và các biện pháp xử lý môi trường.
  • Cộng đồng – có nhiều cách để có thể lan tỏa tín hiệu tích cực trong cộng đồng, ví dụ: tài trợ các sự kiện, tham gia vào các dự án thiện nguyện,…

Tìm hiểu hoạt động CSR của doanh nghiệp

Nhiều công ty lớn hiện tại đều công khai thông tin về các hoạt động CSR trên website giới thiệu chính thức của mình. Hiện cũng có một số chỉ số đo lường CSR như 100 công ty tính trong Chỉ số Trách nhiệm Doanh nghiệp 2011.

LSC tổng hợp

Hệ thống đóng chai khép kín: Gã khổng lồ ngành giải khát đang tham vọng điều gì?

0

Công ty Coca-Cola, với mục tiêu đầy tham vọng có tên gọi “Thế giới không rác thải”, đã cam kết tái chế tất cả bao bì vào năm 2030. Họ đã và đang từng bước dẫn đầu việc tập trung tái tạo toàn bộ vòng đời bao bì sản phẩm – từ cách thiết kế và chế tạo cho đến các giải pháp tái chế và tái sử dụng chai/lon.

Coca-Cola công bố mục tiêu bao bì bền vững đầy tham vọng

ĐỊNH NGHĨA CỦA BAO BÌ BỀN VỮNG

Một hệ thống đóng gói bao bì bền vững là hệ thống có được sự vững mạnh về kinh tế và đem lại lợi nhuận trong suốt vòng đời của nó nhờ vào việc bao bì đóng gói được thay đổi, cải tiến và tận dụng để trở thành một dòng chảy nguyên vật liệu khép kín, thỏa mãn mục tiêu xây dựng hệ sinh thái công nghiệp bền vững và chiến lược của doanh nghiệp liên quan đến các vấn đề môi trường và vòng đời bao bì.

Bao bì bền vững và những lợi ích:

  • Phục vụ cộng đồng một cách an toàn trong suốt vòng đời bao bì
  • Đáp ứng các tiêu chí của thị trường về giá cả và tính năng
  • Được thu mua, chế biến, vận chuyển và tái chế sử dụng năng lượng sạch và công nghệ sạch
  • Tận dụng nguyên vật liệu tái chế và tái sinh được
  • Tiết kiệm năng lượng và vật liệu
  • Có khả năng được tái sinh và tận dụng hiệu quả trong cả môi trường tự nhiên và công nghiệp

TẦM NHÌN VÀ SỨ MỆNH CỦA COCA-COLA

“Người tiêu dùng trên khắp thế giới đều quan tâm đến hành tinh của chúng ta. Họ mong muốn và hy vọng các công ty như chúng ta trở thành những người tiên phong đi đầu, để tạo ra một thế giới không rác thải. Với tầm nhìn về một ‘Thế giới không rác thải’, chúng tôi đang đầu tư cho hành tinh này và không ngừng cải tiến bao bì của mình để góp phần đưa vấn đề bao bì của thế giới trở thành vấn đề của quá khứ.” Ông James Quincey, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Công ty Coca-Cola phát biểu.

Tầm nhìn của Công ty về “Thế giới không rác thải” chính là bước tiếp theo trong chiến lược rộng lớn hơn cho việc phát triển công ty bền vững thông qua các hoạt động kinh doanh đúng đắn. Hướng đến mục tiêu ấy, năm 2016 Coca-Cola đã công bố mình là Công ty đầu tiên trong nhóm Fortune 500 trả lại cho tự nhiên và cộng đồng khoảng 115% lượng nước đã dùng để sản xuất các loại đồ uống của Coca Cola.

Năm 2017, các nhân viên công ty đóng chai Coca-Cola Heartland đã tham gia tình nguyện ở St. Louis để thu gom và phân loại 14.480 pound rác thải; 63% trong số chúng được mang đi tái chế. Công ty cũng đang gia hạn khoản vay cho công ty Ioniqa Technologies để hỗ trợ họ phát triển công nghệ tái chế nhựa PET, sử dụng quy trình khử polyme để tái chế nhựa có màu sắc, chất lượng và điều kiện khác nhau thành các khối tinh khiết, sau đó được chế tạo thành nhựa PET trong suốt và có chất lượng cao, đưa viễn cảnh của một nền kinh tế tuần hoàn một bước gần hơn với thực tế.

“Chúng tôi tin rằng mỗi bao bì – bất kể có nguồn gốc từ đâu – đều có giá trị và vòng đời vượt xa khả năng sử dụng ban đầu”, Quincey nói thêm. “Thứ nào tái chế được thì hãy tái chế. Vì thế, chúng tôi mong muốn hỗ trợ để tất cả mọi người ở khắp mọi nơi hiểu được mình có thể đóng góp thế nào cho hành trình này.”

Ngoài ra, Coca-Cola còn thực hiện hỗ trợ các đối tác của tầm nhìn “Thế giới không rác thải”. Gần đây, công ty đã công bố một khoản đầu tư trị giá 15 triệu đô la vào Circulation Capital, một quỹ cho vay mạo hiểm được thành lập để giải quyết vấn đề rác thải nhựa dưới đại dương ở Nam Á và Đông Nam Á. Quỹ này đóng vai trò ươm tạo và tài trợ cho các công ty và cơ sở hạ tầng để ngăn chặn rác thải nhựa dưới đại dương.

Mới đây nhất, ông Đặng Duy Tùng – vị Giám đốc Chuỗi cung ứng toàn cầu Coca-Cola Việt Nam đã bóp chai nước để khẳng định rằng một chai nhựa của Coca-Cola trông thì cứng cáp, nhưng khi bóp lại sẽ thấy chai đó thực ra cực kỳ mỏng. Lý do chính là vì nguyên liệu nhựa đã được giảm thiểu tối đa trong quá trình sản xuất của Coca-Cola.

“Chai nước Dasani loại 500ml do Coca-Cola sản xuất khi mới vào Việt Nam có trọng lượng 14,5g, nay chỉ còn 12,15g”, ông Tùng chia sẻ về biện pháp giảm thiểu rác thải nhựa ra môi trường của đơn vị này.

Động thái này là một phần trong các hoạt động triển khai sáng kiến “Zero Waste to Nature” (tạm dịch: Không xả thải vào thiên nhiên) mới được ký kết giữa 3 công ty FDI gồm Công ty Coca-Cola với Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Tất cả những chiến dịch trên của công ty Coca-Cola đều thể hiện rõ sự tâm huyết và quyết tâm với tầm nhìn “Thế giới không rác thải”, mà cụ thể hơn là một viễn cảnh bao bì bền vững. Điều đó cũng là minh chứng cho việc Coca-Cola vẫn luôn không ngừng cố gắng để mang đến cho thế giới những điều tốt đẹp.

Theo Coca Cola Journey

Câu chuyện CSR của IKEA: Từ lời nói cho đến hành động

0

IKEA – tập đoàn bán lẻ nội thất lớn nhất thế giới – có một nguyên tắc quan trọng “Giá thấp nhưng không phải bằng mọi giá” (Low price but not at any price). Hãng đã áp dụng một cách sâu sắc nguyên tắc này vào hầu hết hoạt động kinh doanh và quản trị chuỗi cung ứng của mình. 

Một cửa hàng bán lẻ đồ nội thất của IKEA
Một cửa hàng bán lẻ đồ nội thất trong chuỗi cung ứng của IKEA

Bài viết dưới đây sẽ mang đến một cái nhìn chi tiết về cách mà IKEA thể hiện trách nhiệm với cộng đồng và môi trường ở từng khâu của chuỗi cung ứng cũng như thông qua sự cộng tác với các tổ chức trên toàn cầu.

THIẾT KẾ SẢN PHẨM VÀ THU MUA NGUYÊN LIỆU

IKEA tự thiết kế các sản phẩm của mình. Tại khâu thiết kế, IKEA luôn kiểm tra để đảm bảo rằng sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu về chức năng, chất lượng, hiệu quả phân phối và tác động đến môi trường. IKEA đã áp dụng nhiều giải pháp về thiết kế để tối thiểu hóa lượng nguyên liệu được sử dụng.

Ví dụ:

  • Một số loại bàn được sản xuất từ nhựa tái chế
  • Một số thảm trải sàn được làm từ các mảnh nguyên liệu thừa
  • Các sản phẩm như bình đựng nước được thiết kế để có thể xếp chồng lên nhau. Nhờ vậy, số sản phẩm xếp lên mỗi xe tải sẽ lớn hơn; từ đó giảm số chuyến xe và lượng nhiên liệu sử dụng cho vận chuyển.

Ngoài ra, IKEA cũng ban hành bộ quy tắc IWAY (IKEA Way of Purchasing Home Furnishing Products), trong đó bao gồm những chuẩn mực tối thiểu và các hướng dẫn nhằm giúp nhà cung cấp giảm thiểu tác động lên môi trường.

Theo IWAY, một sản phẩm đi vào sử dụng không nên có những ảnh hưởng nguy hiểm tới người tiêu dùng và môi trường xung quanh họ. Ví dụ, nguyên liệu tạo ra sản phẩm không nên gây dị ứng. Nếu sản phẩm tiêu thụ năng lượng, nó phải tiêu thụ một cách hiệu quả. Khi một sản phẩm kết thúc vòng đời, nó nên được tái chế và tái sử dụng để làm ra những sản phẩm khác.

SẢN XUẤT

Khâu sản xuất được IKEA thiết kế sao cho lượng nguyên liệu nhỏ nhất có thể tạo ra những sản phẩm tốt nhất. Chẳng hạn, IKEA tiết kiệm nguyên liệu bằng việc sản xuất chân rỗng cho đồ đạc (VD: ghế tựa OLGA). Bên cạnh đó, công ty còn sử dụng giấy tổ ong thay vì gỗ đặc để làm đầy phần ruột cho mặt bàn.

chuỗi cung ứng
Ghế tựa OLGA với chân ghế rỗng

Trong quá trình sản xuất, IKEA cũng yêu cầu các bên làm việc cho hãng áp dụng bộ quy tắc IWAY. Theo đó, nhà sản xuất cần đảm bảo thực hiện những điều sau:

  • Tuân thủ pháp luật quốc tế và quốc gia bản địa
  • Không sử dụng lao động trẻ em
  • Không sử dụng gỗ và keo dán từ những nguồn không bền vững
  • Giảm tối thiểu lượng rác và khí thải
  • Tăng cường tái chế
  • Tuân thủ các yêu cầu về sức khỏe và an toàn
  • Quan tâm môi trường
  • Chăm sóc nhân công

Để giám sát nhà sản xuất, IKEA thường xuyên tổ chức các cuộc thanh tra về tình trạng thực thi bộ quy tắc IWAY. Hoạt động thanh tra được thực hiện nhiều lần với mỗi cơ sở sản xuất, bao gồm việc nói chuyện với nhân công và kiểm tra các tài liệu, ghi chép.

BÁN LẺ

Bán lẻ là một giai đoạn đặc biệt của chuỗi cung ứng – không hề có khai thác tài nguyên hay tạo ra sản phẩm. Tuy vậy, IKEA vẫn áp dụng hợp lý chính sách phát triển bền vững ở giai đoạn này thông qua việc tính phí cho bao bì xách tay.

Một cửa hàng bán lẻ đồ nội thất của chuỗi cung ứng IKEA tại Aberdeen, Vương quốc Anh
Một cửa hàng bán lẻ đồ nội thất của IKEA tại Aberdeen, Vương quốc Anh

Hành động đó đã giúp các cửa hàng IKEA tại Vương quốc Anh giảm tới 95% lượng bao bì xách tay vào năm 2016. Đến tháng 6/2017, những bao bì này đã được loại bỏ hoàn toàn khỏi hệ thống bán lẻ trong chuỗi cung ứng IKEA ở Vương quốc Anh.   

HỢP TÁC VỚI UNICEF VÀ WWF

Ngoài những hành động trong kinh doanh, IKEA cũng cộng tác với một số tổ chức lớn nhằm bổ trợ cho chuỗi cung ứng bền vững.

Vào năm 2000, IKEA và UNICEF đã hợp tác thành lập một chương trình cộng đồng ở miền Bắc Ấn Độ. Mục tiêu của chương trình là ngăn ngừa lao động trẻ em bằng cách nâng cao nhận thức và tìm ra gốc rễ của tình trạng này. .

Ngoài UNICEF, IKEA cũng hợp tác với WWF (World Wildlife Fund) trong việc xúc tiến sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững trong chuỗi cung ứng. Hoạt động hợp tác đã mang lại những thành tựu đáng kể:

  • Một chuỗi khóa huấn luyện cho người dân ở Nga, Bulgaria, Romania và Trung Quốc về quản lý rừng có trách nhiệm
  • Sự phát triển của kế hoạch trồng rừng ở Trung Quốc
  • Nhiều buổi thuyết trình cho các nhà quản lý ở Latvia về những ích lợi của hoạt động lâm nghiệp có trách nhiệm (responsible forestry)

Là một doanh nghiệp nội thất toàn cầu, IKEA đã lựa chọn con đường phát triển bền vững, thay vì chỉ tập trung gia tăng lợi nhuận và thị phần. IKEA giúp đối tác cung ứng hiểu được tầm quan trọng của chuỗi cung ứng bền vững và xây dựng hình ảnh một công ty có trách nhiệm mà người tiêu dùng có thể tin tưởng.

Đó cũng chính là điều làm nên sự khác biệt của IKEA so với các đối thủ cạnh tranh.

Theo Businesscasestudy

Trụ cột an sinh xã hội và trách nhiệm của các tập đoàn đa quốc gia

0

Trụ cột an sinh xã hội là những tiêu chí cốt lõi dùng để đánh giá khả năng doanh nghiệp giải quyết các vấn đề quan trọng đối với lực lượng lao động, khách hàng và cộng đồng. Những yếu tố liên quan đến lực lượng lao động bao gồm chất lượng lao động, sức khỏe và an toàn lao động, học tập và phát triển, đa dạng và cơ hội.

 Walmart tập trung vào nhũng vấn đề liên quan đến an toàn lao động, bình đẳng giới và chống nạn buôn người tại các đối tác nhà cung cấp.
Walmart tập trung vào nhũng vấn đề liên quan đến an toàn lao động, bình đẳng giới và chống nạn buôn người tại các đối tác nhà cung cấp.

Những yếu tố liên quan đến khách hàng bao gồm vấn đề về nhãn hiệu, minh bạch thông tin sản phẩm cùng với những ảnh hưởng tiêu cực của sản phẩm đối với sức khỏe và tinh thần của khách hàng. Những vấn đề xã hội bao gồm vấn đề nhân quyền và những ảnh hưởng lên cộng đồng địa phương.

Trong các báo cáo trách nhiệm xã hội toàn cầu của mình, cả Walmart và Starbucks đều nhắc tới những yếu tố về xã hội. Cả hai công ty Walmart và Starbucks có điểm chung là đều lấy nguồn nguyên liệu từ một nhà cung cấp thứ ba trên toàn thế giới. Vì vậy, hoạt động liên quan đến lực lượng lao động đều liên quan đến phía nhà cung cấp.

Cụ thể, ông lớn lĩnh vực bán lẻ Walmart tập trung vào những vấn đề liên quan đến an toàn lao động, bình đẳng giới và chống nạn buôn người tại các đối tác nhà cung cấp. Công ty này đã tạo ra “Bộ quy chuẩn cho nhà cung cấp” mà trong đó yêu cầu các đối tác phải loại bỏ tình trạng khai thác lao động trẻ em, đảm bảo trả lương đúng theo luật định, đồng thời chu cấp đầy đủ chế độ y tế và an sinh xã hội cho nhân viên. Khi có sự xuất hiện của một bên thứ ba, việc lập nên một quy chuẩn vẫn chưa đủ. Walmart thậm chí còn lập nên một ban kiểm tra và rà soát cơ sở sản xuất của đối tác nhà cung cấp mỗi 6 đến 24 tháng.

Một số đợt thanh tra có thể do chính công ty thực hiện hoặc thuê một bên dịch vụ thứ ba. Walmart cho biết đã thực hiện 11.568 đợt kiểm tra trong năm 2012 và các đối tác cung cấp cho Walmart đã phải dừng sản xuất tại 214 nhà máy do vi phạm nghiêm trọng các quy tắc.

Tương tự như vậy, Starbucks cho biết thu mua nguyên liệu ngoài chiếm 95% của chuỗi cung ứng cà phê của mình, vì vậy cũng thực hiện những đợt thanh tra nhà cung cấp theo những quy tắc của mình như quy tắc C.A.F.E. (Coffee And Farmer Equity). Bên cạnh đó, các công ty lớn như Walmart và Starbucks cũng có trách nhiệm hỗ trợ những nhà cung cấp nhỏ lẻ tại những nền kinh tế đang phát triển nhằm bám sát những mục tiêu phát triển bền vững.

Nếu chỉ áp dụng những quy chuẩn đơn thuần thì không đồng nghĩa với việc những nhà cung cấp sẽ có đủ khả năng thay đổi, thích ứng. Trong nghiên cứu năm 2013 của Diễn đàn Quản lý Chuỗi cung ứng toàn cầu của đại học Stanford cho thấy “quan hệ hợp tác và hỗ trợ với nhà cung cấp” liên hệ mật thiết với quá trình cải thiện trách nhiệm môi trường và xã hội cũng như tối ưu hóa chi phí vận hành.”

Chi phí thanh tra và tăng cường xây dựng năng lực tại phía nhà cung cấp thường do các doanh nghiệp đảm nhận, trong khi đó hầu hết lợi ích đều thuộc về phía nhà cung cấp mà các doanh nghiệp này hầu như không nhận được gì nhiều. Như đã đề cập về lý thuyết “bi kịch mảnh đất công” hay còn gọi là tình trạng “cha chung không ai khóc”, các công ty lớn thường không muốn bỏ đi nhiều nỗ lực để hỗ trợ khả năng và thanh tra các nhà cung cấp vì thiếu cơ chế “lợi ích chung” để vận hành. Đây chính là nút thắt lớn đối với các tập đoàn khi tiến tới phát triển bền vững và trách nhiệm cộng đồng.

Ví dụ, các nhà bán lẻ phương Tây và những thương hiệu lớn đã đáp trả sự phẫn nộ công chúng trong vụ hỏa hoạn nhà máy Rana Plaza gần Dhaka, Bangladesh bằng cách thúc đẩy xây dựng những biện pháp an toàn lao động. Thay vì góp tay vào xây dựng quy tắc chung, các công ty lại thành lập hai nhóm lợi ích khác nhau. Một nhóm có tên Hiệp định An toàn hỏa hoạn và lao động Bangladesh – bao gồm những nhãn hàng như H&M, Carrefour và Mango. Nhóm khác có tên là – Liên minh An toàn lao động công nhân Bangladesh – bao gồm 26 công ty đến từ Canada và Hoa Kỳ.

Hai nhóm này thường xuyên gây hấn với nhau, phá bỏ những nỗ lực chung của cộng đồng khi cố giải quyết vấn đề an toàn lao động.

“Một số thành viên của liên minh của Mỹ cho rằng phía mình có những động thái tích cực và quyết liệt hơn nhóm Hiệp định của châu Âu, trong khi đó phía Hiệp định thì cho rằng hành động của phe liên minh đang làm tình hình thêm trầm trọng,”

Như vậy, thiếu những thiện chí hợp tác đã làm cho nhiều dự án trách nhiệm cộng đồng đổ vỡ dù mục đích ban đầu của các công ty đa quốc gia này hoàn toàn tốt đẹp.

LSC biên tập

Môi trường – Trụ cột quan trọng trong việc xây dựng một chuỗi cung ứng bền vững

0

Tính bền vững về mặt môi trường được đo lường thông qua ảnh hưởng từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty lên môi trường, bao gồm không khí, đất, nước và hệ sinh thái. Các động thái cải thiện môi trường đến từ một doanh nghiệp điển hình có thể kể đến là giảm thiểu tài nguyên sử dụng trong sản xuất, giảm lượng khí thải và cải tiến sản phẩm.

Môi trường – trụ cột quan trọng trong việc xây dựng một chuỗi cung ứng bền vững

Các nguồn lực sử dụng bởi các doanh nghiệp bao gồm năng lượng, nguyên liệu, nước và đất. Giảm thiểu tài nguyên sử dụng trong sản xuất giúp tài nguyên thiên nhiên được kết hợp hiệu quả hơn trong chuỗi cung ứng. Thành công của Starbucks trong việc giảm 21% mức tiêu thụ nước tại các cửa hàng do công ty điều hành từ năm 2008 đến 2013, thông qua việc sử dụng các thiết bị hiệu suất cao và giám sát chặt chẽ lượng tiêu thụ, là một ví dụ nổi bật. Để cắt giảm tiêu thụ năng lượng, Walmart tập trung vào hệ thống HVAC (Heating, Ventilating, and Air Conditioning – Hệ thống sưởi ấm, thông gió và điều hoà không khí), ướp lạnh và chiếu sáng. Việc lắp đặt hệ thống chiếu sáng tủ đông LED, tiếp theo là triển khai hệ thống chiếu sáng sàn bán hàng LED đã giúp công ty giảm mức tiêu thụ năng lượng tại các cửa hàng của mình. Theo Báo cáo Trách nhiệm toàn cầu 2013 từ Walmart, lượng tiêu thụ nhiên liệu vào năm 2012 đã được cắt giảm, cụ thể là “giao nhiều hơn 297 triệu kiện hàng trong khi lái xe ít hơn 11 triệu dặm.” Hoạt động cắt giảm sử dụng tài nguyên không chỉ có ích cho môi trường, mà còn tiết kiệm tiền cho công ty. Ví dụ, Walmart tuyên bố rằng hiệu suất vận chuyển và nhiên liệu được cải thiện đã giúp tiết kiệm cho công ty và khách hàng gần 130 triệu USD.”

Các hoạt động giảm chất thải làm giảm khí thải nguy hiểm (ví dụ: khí thải nhà kính), rác thải, nước thải cũng như tác động môi trường của công ty đối với cộng đồng. Từ thực tế rằng có đến khoảng 80% lượng khí thải nhà kính trực tiếp của Starbucks đến từ nhiên liệu được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các cửa hàng và cơ sở vật chất, công ty đã tập trung vào việc xây dựng các cửa hàng mới đủ tiêu chuẩn đạt chứng nhận U.S. Green Building Council’s Leadership in Energy and Environmental Design (LEED). Trong năm 2012 và 2013, khoảng 65% các cửa hàng Starbucks mới đã nhận chứng nhận LEED. Túi mua sắm sử dụng một lần là một nguồn chất thải đáng kể; các nhà bán lẻ đã bắt đầu có những nỗ lực nhất định để thuyết phục khách hàng chuyển sang túi sử dụng nhiều lần. Nỗ lực này tỏ ra khá thành công ở hầu hết các nơi trên thế giới mà nó đã thực hiện. Walmart tuyên bố đã giảm hơn 38% lượng chất thải đến từ túi nhựa mua sắm trên mỗi cửa hàng trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2013.

Đổi mới sản phẩm phản ánh khả năng của công ty trong việc cắt giảm chi phí và gánh nặng môi trường đối với khách hàng thông qua việc phát triển các sản phẩm hoặc dịch vụ có hiệu quả sinh thái cao. Mặc dù có một loạt các ví dụ về cải tiến sản phẩm thân thiện với môi trường, đây cũng là một lĩnh vực mà hầu hết các tuyên bố vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi. Theo một nghiên cứu do công ty tư vấn tiếp thị TerraChoice thực hiện, “hơn 98% các sản phẩm được cho là tự nhiên và thân thiện với môi trường trên kệ các siêu thị tại Mỹ đang đưa ra những tuyên bố sai lệch hoặc gây hiểu lầm, và 22% các sản phẩm đang đưa ra những tuyên bố xanh mà không hề gắn liền với mục đích vốn có thực sự của bảo vệ môi trường.” Thuật ngữ “greenwashing” từ đó ra đời nhằm ám chỉ các sản phẩm và hành vi có vẻ “xanh” nhưng về cơ bản lại là nhằm mục đích tăng trưởng lợi nhuận.

Khi bắt đầu hành trình cải thiện tính bền vững của mình, một công ty nên trước hết tập trung vào các hoạt động giảm thiểu sử dụng tài nguyên. Dù là giảm nguyên liệu đóng gói, mức sử dụng năng lượng hay vận chuyển, các hoạt động cắt giảm tài nguyên mang tính khả thi cao nhất trong việc vừa bảo vệ môi trường lẫn cải thiện lợi nhuận. Những thành công đó sẽ đem đến động lực để thực hiện các hoạt động vì tính bền vững nhiều thách thức hơn. Thúc đẩy cắt giảm tài nguyên có thể kèm theo cả những gia tăng trong chi phí nhiên liệu và vận chuyển. Khi chi phí vận chuyển tăng lên, mạng lưới chuỗi cung ứng có khả năng trở nên giới hạn trong khu vực hơn, giúp giảm lượng khí thải từ giao thông vận tải. Tuy nhiên, về lâu dài, những lợi ích lớn nhất cho xã hội thường tích lũy khi các công ty xem xét các yếu tố xã hội và môi trường khi đưa ra quyết định tìm nguồn cung ứng. Thách thức lớn nhất đối với các nỗ lực cải thiện xã hội và môi trường chính là thực tế rằng trong khi hầu hết các nỗ lực là của một công ty (và có thể là chuỗi cung ứng của họ), lợi ích lại được phân phối rộng rãi hơn nhiều. Thực tế này cũng khó khăn trong việc đo lường mọi thay đổi trên phạm vi toàn bộ chuỗi cung ứng có thể khiến tiến độ thực sự bị chậm lại trong khi các công ty tiếp tục tuyên bố họ đã thực hiện những cải tiến lớn liên quan đến tính bền vững.

Biên tập: Thùy Ngân