Tồn kho kỹ thuật số: Cách công nghệ in 3D thay đổi cục diện quản lý kho

0

Trong chuỗi cung ứng, việc sản xuất và lưu trữ hàng phụ tùng đã và đang đưa ngành công nghiệp sản xuất toàn cầu đến điểm tắc nghẽn.

Trong chuỗi cung ứng, việc sản xuất và lưu trữ hàng phụ tùng đã và đang đưa ngành công nghiệp sản xuất toàn cầu đến điểm tắc nghẽn.
Mô hình mẫu một chiếc máy in 3D cỡ nhỏ

Theo truyền thống, phụ tùng thay thế sẽ được lưu trữ trên kệ trong kho sau khi được sản xuất cùng với các bộ phận được sử dụng trong tổ hợp sản xuất ban đầu. Số bộ phận này dù không được sử dụng nhưng vẫn phải lưu trữ cho những trường hợp bất ngờ nên không gian bị chiếm dụng rất nhiều và kéo dài trong nhiều năm.

Các chủ sở hữu sẽ chịu lỗ rất nặng nề để tái đầu tư vào các sản phẩm hoàn toàn mới nếu một bộ phận trong chuỗi hư hỏng mà không có phụ tùng thay thế.

Có rất nhiều ngành công nghiệp dựa vào hàng tồn kho vật lý để đáp ứng nhu cầu hậu mãi cho khách hàng, ví dụ, phụ tùng ô tô. Vì sự tiện lợi và thoải mái của chúng mà nhu cầu cho phương tiện cá nhân đang ngày một tăng cao trên toàn cầu với nhiều kiểu dáng và mẫu mã khác nhau, và mỗi bộ phận đều sẽ cần phụ tùng thay thế do hao mòn, tai nạn và tuổi thọ.

Việc chúng ta không thể dự đoán được hành vi con người và những gì thực sự xảy ra đối với phương tiện đang sử dụng có nghĩa là sẽ không có bất kì công thức hoàn hảo nào để tính toán được số lượng bộ phần có sẵn khi cần tại bất kỳ vị trí nào để lưu trữ. Hơn nữa việc lưu trữ phụ tùng còn đòi hỏi một lượng nhân công lớn để bảo trì cơ sở và duy trì việc vận hành nhà kho.

“Digital Inventory” – Hàng tồn kho số là một khái niệm đang được bàn tán sôi nổi trong ngành Quản lý chuỗi cung ứng.

Không chỉ là một từ nói suông, nguyên tắc cơ bản ở đây là thay vì lưu trữ một kho vật lý với số lượng lớn phụ tùng có hoặc không có nhu cầu tại bất kỳ thời điểm nào, bao gồm cả bộ phận cho các sản phẩm đã lỗi thời và các tệp thiết kế, chúng có thể được lưu trữ dưới dạng kỹ thuật số và thực hiện theo yêu cầu. Công nghiệp 4.0 đang tăng tốc và tác động rất lớn đến ngành sản xuất khi mà việc số hóa còn hơn cả một chuẩn mực cho nên những công nghệ như in 3D hay Sản xuất bồi đắp đang dần chiếm vị trí quan trọng trong các công nghiệp cho phép áp dụng Digital Inventory.

Trong các giải pháp Digital Inventory, nhà kho sẽ đóng vai trò một cơ sở sản xuất theo yêu cầu. Các file kỹ thuật số sẽ được gửi cẩn thận từ nhà sản xuất với sự đảm bảo rằng các thiết kế gốc là chính xác, sau đó in 3D các tệp này tại chỗ bởi một hệ thống đáng tin cậy với chất lượng đã được chứng minh và xử lý hậu kỳ các bộ phận để đảm bảo hình dạng và bề mặt hoàn thiện và chúng ta sẽ giảm được nhu cầu phải vận chuyển toàn cầu. Điều này có tác động lớn đến thực tiễn trong hậu cần khi mà chúng ta có thể giảm thời gian khách hàng phải chờ đợi hàng cũng đồng thời cắt giảm lượng khí thải carbon của quá trình vận chuyển hàng hóa.

Tất nhiên, quy trình làm việc đó là một trong những kịch bản tốt nhất của thế giới. Trong thực tế, việc chuyển đổi sang hàng tồn kho số và sản xuất phụ tùng theo yêu cầu tại chỗ vẫn chỉ là: trong quá trình chuyển đổi. Có rất nhiều thông tin cần phải xác nhận và cân nhắc quan trọng ví dụ như vấn đề sở hữu trí tuệ (IP), chất lượng của các vật liệu, tính nhất quán hay trình độ của nhân viên.

Một số công ty đã giải quyết vấn đề IP bằng việc sử dụng Identify3D, một hệ thống đảm bảo việc sử dụng hợp pháp các tệp và cho phép truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ quá trình sản xuất. Tính nhất quán của các bộ phận là mối quan tâm chính; chất lượng các phần cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn giống nhau bất kể nơi xuất xứ. Một thành phần 3D được in ở Singapore phải có các đặc điểm vật lý giống như được sản xuất tại San Francisco hoặc Berlin.

Để bất kỳ quá trình chuyển đổi nào sang Digital Inventory thành công, nó cần được triển khai vào các quy trình công việc hiện có cũng như mới được thiết lập. Công nghiệp là bước đầu tiên trong hành trình áp dụng dài này, vì các công nghệ non trẻ và các thủ tục mới được tạo ra trong nhiều trường hợp vẫn cần được chứng minh là tiềm năng.

Khi nói đến các giải pháp Digital Inventory, việc áp dụng sản xuất bồi đắp hay in 3D sẽ tạo ra một bức tranh mới mẻ về thực tiễn tốt nhất trong quản lý chuỗi cung ứng và sản xuất toàn cầu.

Theo Forbes / Biên tập: Phương Thy

TOP 10 Nhà máy sản xuất lớn nhất trên thế giới

0

Với những nhu cầu sản xuất mới trong nền kinh tế hiện đại, các nhà máy đang không ngừng được mở rộng về quy mô. Hôm nay, LSC sẽ cùng các bạn tìm hiểu về top 10 nhà máy “khủng” nhất mà con người đã xây dựng nên.

>> 10 Phương tiện Big Data đang cách mạng hóa việc quản lý chuỗi cung ứng / TOP 25 doanh nghiệp kho lạnh, nhà cung cấp dịch vụ Logistics 2016

10. Tòa nhà lắp ráp phương tiện không gian của NASA tại bang Florida, Hoa Kỳ

Diện tích: 32,374m²

Đây là tòa nhà duy nhất có thể lắp ráp các tên lửa đưa con người lên vũ trụ, nó được hoàn thành vào năm 1966 – 3 năm trước khi Mỹ công bố đưa con người lên Mặt Trăng thành công.

Mặc dù chỉ đứng thứ 10 trong danh sách, tòa nhà này lại có thể tích lên tới 2.664.883m3 và là tòa nhà 1 tầng lớn nhất thế giới. Bên trong tòa nhà là 4 hành lang với những khung cửa cao 139 mét, mà phải mất 45 phút mới mở hết được.

9. Nhà máy đóng tàu Meyer Werft Dockhalle 2 tại Papenburg, Đức

Diện tích: 63.000m2

Meyer Werft Dockhalle 2 được hoàn thành vào năm 1795 và nằm dưới sự quản lý của gia đình Meyer qua 7 thế hệ. Đây là xưởng đóng tàu có mái che lớn nhất trên thế giới với diện tích sàn ấn tượng 63.000m², chủ yếu được sử dụng để đóng các tàu du lịch. Nhà xưởng lớn nhất trong quần thể này có chiều dài 504m, rộng 125m và chiều cao 75m.

8. Nhà máy sợi Lauma tại Liepāja, Latvia

Diện tích: 115,645m2

Công ty Lauma của Latvia được biết đến là một trong những công ty lớn nhất trong ngành công nghiệp dệt may. Năm 1965, Lauma khởi công nhà máy ở Liepāja để sản xuất nguyên liệu thô và ren cho đồ lót, quá trình xây dựng được chính thức hoàn thành vào năm 1977. Đây là nhà máy sợi vải lớn nhất trên thế giới với chiều rộng 225m và chiều dài 505m. Hiện nay, nhà máy sở hữu 5000 công nhân và đang sản xuất  các sản phẩm ren sợi phục vụ cho thị trường rộng lớn ở khu vực Đông Âu – Trung Á.

7. Nhà máy máy bay Jean-Luc Lagardère tại Toulouse-Blagnac, Pháp

Diện tích: 122.500m2

Cơ sở công nghiệp nằm ở Toulouse, Pháp này chính là nơi ra đời của Airbus A380 – chiếc máy bay lớn nhất thế giới. Nhà máy được xây dựng chỉ trong ba năm từ 2001 tới 2004 trước áp lực phải nhanh chóng tạo ra một cơ sở lắp ráp cho máy bay Airbus A380. Khi hoàn thành, nhà máy Jean-Luc Lagardère có một hành lang dài 250m, rộng 115m, cao 46m và sáu phòng nhỏ hơn với kích thước 100m x 100m. Ngoài khu vực lắp ráp, cơ sở này còn có một khu vực đường băng thử nghiệm rộng 200.000m2.

6. Nhà máy ô tô Rivian tại bang Illinois, Hoa Kỳ

Diện tích: 220.000m2

Nhà máy vốn thuộc sở hữu của Mitsubishi Bắc Mỹ trước khi hãng này bán lại cho công ty start-up Rivian Automotive vào tháng 1/2017. Được xây dựng vào năm 1981, cơ sở khổng lồ này bao gồm khu vực sản xuất, văn phòng làm việc, một xưởng sơn ô tô cùng nhiều trang thiết bị máy móc và robot. Dự kiến đây sẽ là nơi sản xuất ra những phương tiện tự lái chạy bằng điện đầu tiên của Rivian kể từ quý 1 năm 2019.

5. Nhà máy ô tô Belvidere của Chrysler tại bang Illinois, Hoa Kỳ

Diện tích: 330.000m2

Cũng là một nhà máy khác ở bang Illinois, cơ sở lắp ráp này được sở hữu bởi Fiat Chrysler – một trong ba nhà sản xuất ô tô lớn nhất Hoa Kỳ. Nhà máy được xây dựng vào năm 1965 trên diện tích 330.000m2. Hiện nay, hơn 5.100 công nhân và 780 robot đang làm việc tại đây nhằm lắp ráp các loại xe như Jeep Compass, Jeep Patriot và Dodge Dart.

4. Nhà máy máy bay Boeing tại bang Washington, Hoa Kỳ

Diện tích: 398.000m2

Đây là nhà máy sản xuất máy bay lớn nhất thế giới, nơi cho ra đời các máy bay Boeing 747, 767, 777 và 787 Dreamliner. Cơ sở rộng lớn này được xây dựng vào năm 1966, sau khi Boeing tiếp nhận đơn đặt hàng 25 chiếc 747 từ Pan American World Airways. Để thuận tiện cho hoạt động sản xuất, nhà máy đã xây dựng một hệ thống đường hầm dài 3,8 km, một tuyến đường sắt riêng đồng thời cung cấp 1000 xe đạp cho việc di chuyển.  Ngày nay, nhà máy đang là nơi làm việc của trên 30.000 nhân viên trong lĩnh vực lắp ráp máy bay, chế tạo động cơ và bảo đảm an ninh sản xuất.

3. Gigafactory – Siêu nhà máy của Tesla tại bang Nevada, Hoa Kỳ

Diện tích: 1.208.000m2

Tọa lạc giữa sa mạc Nevada rộng lớn và khô cằn, Gigafactory có lẽ là một trong những hiện thân tiêu biểu nhất cho khát vọng lớn lao của Elon Musk. Về diện tích, Gigafactory lớn gấp 107 lần sân bóng bầu dục NFL tiêu chuẩn với 4 tầng nhà máy và 2 tầng làm việc trên cùng. 

Tesla hy vọng từ năm 2018 trở đi, Gigafactory có thể sản xuất 35 GWh pin mỗi năm, đủ sử dụng cho 500.000 chiếc Model 3. Sau khi chính thức hoàn thành, mỗi năm nhà máy sẽ tạo ra lượng pin tương đương với 150 GWh và đủ phục vụ cho 1,5 triệu chiếc Model 3.

2. Nhà máy ô tô Hyundai tại Ulsan, Hàn Quốc

Diện tích: 5.050.000m2

Cơ sở sản xuất của Hyundai Motor ở Ulsan, thành phố miền nam Hàn Quốc chiếm một diện tích khổng lồ 5.050.000m² trên khu đất rộng 1.225ha. Tại đây có năm nhà máy sản xuất riêng biệt và cứ 12 giây lại có thể sản xuất ra một chiếc xe, tương đương với 1,53 triệu chiếc xe mỗi năm.

Nhà máy cũng có hẳn một bệnh viện riêng, khu dịch vụ cứu hỏa, hệ thống đường bộ, và nhà máy xử lý nước thải. Nhà máy này còn có hơn 500.000 cây xanh và một bến tàu độc quyền với công suất neo đậu ba tàu chở hàng 50.000 tấn trong cùng một thời điểm.

1. Nhà máy ô tô Volkswagen tại Wolfsburg, Đức

Diện tích: 6.500.000m2

Với diện tích 6,5 triệu mét vuông, đây là nhà máy lớn nhất trên thế giới. Nhà máy này đã chứng kiến sự ra đời của hơn 40 triệu chiếc xe hơi và hiện đang xuất xưởng khoảng 4000 chiếc mỗi ngày. Có 70.000 công nhân làm việc tại đây, vì diện tích nhà máy quá lớn nên mỗi người đều được phát một chiếc xe đạp để di chuyển tới các xưởng.  

Ngoài dòng ô tô chính Volkswagen, nhà máy còn là nơi sản xuất các loại xe như Audi, Bentley… và chiếc siêu xe nổi tiếng thế giới – “Lamborghini”.

Với việc tìm hiểu về 10 nhà máy sản xuất lớn nhất thế giới, LSC hy vọng các bạn sẽ có thêm những kiến thức giá trị và phần nào hình dung được sự phát triển của nền công nghiệp sản xuất toàn cầu. Thông qua bài viết, LSC cũng muốn gửi gắm niềm mong ước rằng trong tương lai, nền sản xuất của Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và một nhà máy của đất nước chúng ta sẽ có tên trong danh sách này.

Biên tập và tổng hợp: Nghĩa Gem

Eprocurement – Giải pháp thông minh của thời đại

0

Có thể nói, Internet đã mang đến những sự thay đổi đáng kể trong quá trình mua hàng, và có lẽ nhờ đó làm sinh sôi ra một khái niệm mới: E-procurement.

Internet đã mang đến những sự thay đổi đáng kể trong quá trình mua hàng, và có lẽ từ đó làm sinh sôi ra một khái niệm mới: E-procurement.
Internet đã mang đến những sự thay đổi đáng kể trong quá trình mua hàng, và có lẽ từ đó làm sinh sôi ra một khái niệm mới: E-procurement.

Nhờ vào EDI (hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử), các thông tin cơ bản giữa người mua và người bán như hóa đơn, chứng từ, phiếu thu đều được lưu lại một cách dễ dàng, mọi hoạt động mua bán đều được số hoá và hầu như không dùng đến giấy tờ.

Từ đó, một thị trường kỹ thuật số được hình thành và được sử dụng trong quá trình mua bán. Chúng ta có thể gọi đó là một nền tảng giao dịch, nơi cung cấp thông tin giữa người bán và người mua, hỗ trợ các quy trình kinh doanh một cách an toàn và thuận tiện nhất.

Thị trường nếu phân loại theo chiều ngang sẽ bao gồm các khu vực hàng hóa và dịch vụ ví dụ như năng lượng và tài liệu văn phòng; và nếu chia theo chiều dọc sẽ là các ngành hàng cụ thể, ví dụ như ngành sản xuất ô tô hoặc thiết bị y tế. Các giải pháp chủ yếu hướng tới các thị trường B2B đơn giản (loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp).

Phần lớn các ứng dụng B2B là trong lĩnh vực quản lý cung ứng (Đặc biệt chu trình đặt hàng mua hàng), quản lý kho hàng, quản lý phân phối và quản lý thanh toán (ví dụ hệ thống thanh toán điện tử).

Hệ thống giao dịch qua mạng máy tính còn mang lại lợi ích rất lớn trong cộng đồng doanh nghiệp và nhà thầu, cung cấp một kênh minh bạch hóa các thông tin đấu thầu không chỉ của các đơn vị trong Nhà nước mà cả các tổ chức, doanh nghiệp ngoại quốc. Nhờ vậy, quá trình lựa chọn nhà thầu diễn ra công khai, công bằng dưới sự giám sát của cả cộng đồng và đạt được hiệu quả kinh tế nhờ tiết kiệm các chi phí so với hình thức tổ chức đấu thầu truyền thống.

Bên cạnh đó, vấn đề giá thấp hoặc sự biến động giá không đáng kể cũng có thể được thu thập và tổng hợp, và đôi khi cấu hình thông qua hệ thống danh mục cũng có thể bảo đảm được những mức giá nhất định và phục vụ cho việc so sánh giá trở nên rõ ràng hơn. Quy trình đấu thầu như vậy như một giả định cho thị trường người mua và mục đích là để có được giá mua tốt nhất.

Việc gia nhập vào các nền tảng B2B này được xác định bởi các tiêu chí như chuyên môn hóa ngành, thị phần, tính trung lập, tính minh bạch và các dịch vụ thông tin.

Ngoài ra, một bước quan trọng để thực hiện tích hợp công nghệ thông đó là xây dựng hệ thống mạng máy tính nội bộ mạnh mẽ để kết nối tới các đối tác tiềm năng. Mục đích của một hệ thống đồng bộ là định hình tất cả các quy trình công việc trong công ty cũng như áp dụng các giải pháp phần mềm ERP/ SCM.

Ngoài lĩnh vực mua sắm, thuật ngữ e-logistics đã được thiết lập để hoạch định chiến lược và thực hiện các hệ thống hậu cần cho doanh nghiệp dựa trên Internet, kiểm soát vận hành các quy trình hậu cần để cung cấp cho khách hàng mục tiêu trong thương mại điện tử.

Biên tập: Hương Duyên

Hải quan sẽ cung cấp công cụ tra cứu và phân loại cho doanh nghiệp

0

Ông Quách Đăng Hòa, Cục trưởng Cục quản lý rủi ro (Tổng cục Hải quan) đưa ra thông cáo trên tại Hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp “Dự thảo thông tư quy định tiêu chí đánh giá tuân thủ và tổ chức đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong hoạt động xuất, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa.”

Hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Tổng cục Hải quan tổ chức ngày 4.12, tại Hà Nội.

Sẽ có 4 loại doanh nghiệp 

Phát biểu tại Hội thảo, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI cho biết, quản lý hải quan đang đối mặt với các thách thức lớn.

Thách thức đầu tiên là gia tăng khối lượng công việc khi hàng hoá xuất nhập khẩu tăng nhanh chóng cả về khối lượng và tính đa dạng của các loại mặt hàng. Vì vậy, cần áp dụng phương pháp quản lý rủi ro dựa trên đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Đây được xem là khâu trọng yếu, vừa đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước vừa nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho các nhà xuất nhập khẩu và qua đó nền kinh tế sẽ thu được lợi ích lớn.

“Chính vì vậy, chúng tôi đánh giá cao Tổng cục Hải quan đã nghiên cứu, đề xuất xây dựng Thông tư quy định tiêu chí đánh giá tuân thủ và tổ chức đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa. Đây chính là một khung khổ pháp lý cần thiết để hướng tới các mục tiêu quan trọng nêu trên. Thông tư này sẽ là một bằng chứng rõ nét, một ví dụ cụ thể nhất về những nỗ lực đổi mới phương thức quản lý nhà nước, là biểu tượng cải cách thủ tục hành chính của ngành Hải quan”, ông Phòng đánh giá. 

Theo ông Hoàng Việt Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan trong nhiều năm qua đã có nhiều cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm, áp dụng thủ tục hải quan điện tử, tự động hóa trong quá trình thông quan, giám sát hải quan tự động, cảng biển, hàng không, thực hiện chương trình quản lý ứng dụng công nghệ thông tin, thanh toán điện tử qua ngân hàng,… Tuy nhiên, để những hoạt động này có hiệu quả, ngành Hải quan đang xem xét để rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo những quy định của ngành Hải quan được minh bạch.

Hiện nay, ngành Hải quan đang áp dụng biện pháp quản lý rủi ro, đây là biện pháp được hầu hết Hải quan các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng. Đây cũng là phương pháp quản lý nhằm tối ưu hóa nguồn nhân lực, đồng thời quản lý hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát của ngành Hải quan. Theo đó, phương pháp quản lý rủi ro dựa trên cơ sở đánh giá sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp để quản lý, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tiền kiểm chỉ kiểm tra ở một mức độ nhất định tối thiểu còn lại là kiểm tra sau thông quan.

Về cơ bản hiện nay Hải quan Việt Nam áp dụng 3 luồng chính để kiểm tra là: Xanh, Vàng, Đỏ. Mỗi luồng hàng được phân loại nói lên mức độ đánh giá của cơ quan Hải quan đối với hàng hóa trong quá trình quản lý rủi ro.

Cụ thể, luồng Xanh là luồng được miễn kiểm tra kể cả hồ sơ và hàng hóa (chiếm 60%), luồng Vàng chỉ kiểm tra hồ sơ (chiếm 35%) và luồng Đỏ hiện nay là 5%. Hiện nay tỷ lệ này phù hợp với thông lệ quốc tế, Hải quan các nước cũng đang áp dụng.

“Lần này ngành Hải quan dự kiến sẽ phân loại doanh nghiệp thành 4 loại thay vì 3 loại như hiện nay. Đó là tuân thủ cao, tuân thủ trung bình, tuân thủ thấp và không tuân thủ. Trên cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, cơ quan Hải quan sẽ thực hiện việc áp dụng các chính sách ưu đãi, biện pháp quản lý để đạt được 2 mục tiêu là tạo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp và kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại”, Phó Tổng cục trưởng Hoàng Việt Cường cho biết thêm.

Cụ thể hóa tiêu chí đánh giá doanh nghiệp

Theo ý kiến đánh giá của nhiều doanh nghiệp, Bộ tiêu chí trong Dự thảo lần 3 Thông tư quy định tiêu chí đánh giá tuân thủ và tổ chức đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong hoạt động xuất, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, dự kiến sẽ tác động lớn đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa.

Cho ý kiến góp ý về bản dự thảo trên, ông Vũ Chu Hiền, Trọng tài viên, Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, trong 5 phụ lục đi kèm, dự thảo đã quy định khá chi tiết các chỉ số tiêu chí đánh giá tuân thủ, danh mục hành vi, danh mục thông tin phục vụ đánh giá tuân thủ, cũng như các chỉ tiêu thông tin hồ sơ doanh nghiệp và các mẫu bảng biểu.

Tuy nhiên, tại Điều 2 của dự thảo, việc đánh giá xếp hạng theo các tiêu chí này do cơ quan Hải quan chủ trì thực hiện với sự tham gia của các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc Bộ Tài chính và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu.

“Cần nêu rõ cụ thể tên các cơ quan tránh việc phải lấy nhận xét của quá nhiều cơ quan có thẩm quyền, nhưng lại không phải là cơ quan chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể nhất định để đưa ra nhận xét đánh giá”, ông Hiền đề xuất. 

Đứng ở góc độ là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thuế, bà Đặng Thị Bình An, Giám đốc Công ty Tư vấn thuế C&A đánh giá cao bản dự thảo lần này. Dự thảo đã thể hiện được mong muốn của các doanh nghiệp khi biết được thông tin cơ quan Hải quan đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật về hải quan. Các căn cứ tiêu thức phân loại đánh giá cũng nhằm giúp doanh nghiệp phấn đấu thực hiện tốt hơn pháp luật về hải quan.

Góp ý về dự thảo, bà An cho rằng, cơ quan Hải quan cần tổ chức phân loại thử tiêu chí được đưa ra để xác định cách phân loại hợp lý, phù hợp với năng lực quản lý của cơ quan Hải quan, tránh trường hợp khi phân loại thực tế các doanh nghiệp có quá nhiều doanh nghiệp phân vào loại 3 và 4, năng lực quản lý của cơ quan Hải quan không đáp ứng được.

Đại diện Công ty Tư vấn thuế C&A cũng cho rằng, cần lựa chọn tiêu chí để đánh giá thực chất hoạt động của doanh nghiệp. Việc có quá nhiều tiêu chí khiến doanh nghiệp rất khó nhận biết mình đã vi phạm tiêu chí nào trong khi đó quy định thời gian khắc phục là quá lâu (365 ngày). Nên xây dựng tiêu chí đơn giản, dễ nhớ để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Kết luận hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Hoàng Việt Cường cho biết, việc thu thập thông tin là quan trọng nhất trong việc đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Việc xây dựng tiêu chí đánh giá được một số doanh nghiệp góp ý là nên xây dựng theo hướng ít tiêu chí, đơn giản, dễ hiểu nhưng theo ông Hoàng Việt Cường, nếu xây dựng ít tiêu chí quá thì không thể đánh giá chính xác được vì vậy cần phải nghiên cứu cân nhắc nhưng cố gắng cụ thể hóa để đảm bảo một lượng tiêu chí nhất định để thực hiện phân loại theo từng mức độ.

Theo baohaiquan

Mô hình LSS: Ưu thế nào khi xác định nguồn cung chiến lược

0

Chiến lược tìm nguồn cung là một lĩnh vực trở nên phổ biến trong giới cố vấn quản trị chuỗi cung ứng từ những năm cuối 1980 đầu năm 1990. Xu hướng này hợp thức hóa cách thức các doanh nghiệp thu thập và sử dụng thông tin tạo đòn bẩy để nâng cao sức thu mua và tạo ra giá trị tốt nhất cho thị trường.

Chiến lược tìm nguồn cung là một lĩnh vực trở nên phổ biến trong giới cố vấn quản trị chuỗi cung ứng từ những năm cuối 1980 đầu năm 1990.
Chiến lược tìm nguồn cung là một lĩnh vực trở nên phổ biến trong giới cố vấn quản trị chuỗi cung ứng từ những năm cuối 1980 đầu năm 1990.

Xác định nguồn cung chiến lược bao gồm công việc phát triển các kênh cung cấp với tổng chi phí thấp nhất, song, điều này không đồng nghĩa với việc thu mua giá thấp. Từ mảng thu mua truyền thống, xác định nguồn cung chiến lược sẽ mở rộng thêm các hoạt động trong quy trình thu mua khép kín – từ các thông tin chi tiết hàng hóa cho tới hóa đơn và thanh toán hàng hóa dịch vụ.

Với các chiến lượng thu mua truyền thống, doanh nghiệp đã tiết kiệm được một khoản. Tuy nhiên, họ không hoàn toàn phải tập trung vào các chi phí mà hướng tới những mối quan hệ hợp tác lâu dài với các nhà cung cấp.

Để theo đuổi mục đích này, một số nhà thu mua đã nỗ lực hợp tác và kết nối chuỗi cung ứng của mình với các giám đốc vận hành khác. Vì thế, mô hình Xác định nguồn cung chiến lược dài hạn (Lean Strategic Sourcing – LSS) ra đời.

Mô hình LSS nhìn chung là một giải pháp chiến lược tạo ra các giá trị bổ sung lũy kế cho doanh nghiệp trong chặng đường dài phát triển dựa trên các mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp sản xuất và nhà cung cấp. Có 4 lợi ích mà doanh nghiệp hiện tại có thể đạt được từ LSS:

  1. Đạt được khối lượng mua lớn hơn từ các khu vực chức năng chính dẫn đến giảm giá thành và tăng năng lực sản suất.
  2. Mở rộng cơ hội xác định các nguồn cung dự phòng.
  3. Nâng cao chất lượng và giảm thiểu chất thải.
  4. Tìm kiếm cơ hội hợp tác với các công ty cung cấp để tối thiểu hóa chi phí.

Từ lý thuyết cho đến hiện thực

Các bước thực thi hóa mô hình LSS:

  • Hợp tác thành một chuỗi và tái thiết hệ thống cung ứng nguyên vật liệu để nâng cao hiệu quả tài chính.
  • LSS sử dụng chiến lược Kaizen. Một cách để thực hiện mô hình này là nâng cao năng lực quản trị logistics và các chi phí liên quan như kiểm soát lô hàng và phân tích các chi phí. Việc này yêu cầu tập trung cắt bỏ các chi phí mà không nâng cao được chất lượng hàng hóa dịch vụ, đồng thời tạo ra sự cân bằng giữa nguồn cung và vận hành.
  • LSS cũng dựa vào giảm thiểu thời gian chết, hiệu suất sử dụng tiền thông qua các sáng kiến cải thiện quy trình.
  • Hợp tác với các nhà cung cấp để phát triển các điều khoản hợp đồng có lợi, tối ưu hóa các chi phí vận chuyển, tạo ra mạng lưới nguồn cung giảm thiểu các hiểm họa tiềm tàng.

>> Xem thêm: Thiên tai – Kẻ thù của các nhà máy tự động hóa và Logistics

Và cuối cùng, phía doanh nghiệp sẽ là nhân tố then chốt cho một mô hình LSS thành công:

  • Doanh nghiệp sẽ phát triển các cột mốc dự án và thời gian để tạo ra kết quả mong muốn.
  • Tạo ra một đội ngũ có cơ cấu vững chắc.
  • Cân nhắc tiến ra thị trường toàn cầu đối với một số loại sản phẩm. Song doanh nghiệp cũng cần mô hình hóa các rủi ro tiềm năng.

Biên tập: Minh Tuấn

Đón đầu làn sóng Outsourcing toàn cầu

0

Outsourcing được hiểu là chuyển một phần chức năng của công ty ra bên ngoài, bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và nhân lực  – những chức năng mà trước đây doanh nghiệp vẫn đảm nhận.

Outsourcing không chỉ được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ một nước mà còn là xu hướng mới của các cường quốc thế giới.
Outsourcing không chỉ được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ một nước mà còn là xu hướng mới của các cường quốc thế giới.

Outsourcing không chỉ được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ một nước mà còn là xu hướng mới của các cường quốc trên thế giới. Các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Đức, Anh đều tăng năng suất và tối đa hóa lợi nhuận bằng cách thuê dịch vụ outsourcing như gia công, lắp ráp, vận chuyển,… từ các công ty bên ngoài.

Các doanh nghiệp vẫn có xu hướng outsource dịch vụ logistics trong nhiều năm tới đây.

Ngày nay, các hoạt động như vận tải nội địa, quản trị kho bãi, vận tải quốc tế, môi giới hải quan và giao nhận hàng hoá đa phần đều áp dụng Outsourcing. Trong thời đại công nghệ đang tiếp tục thúc đẩy mạnh tiêu dùng trực tuyến, một nghiên cứu về Third Party Logistics (Công ty cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ ba hay là Logistics theo hợp đồng) đã mô tả cách thức chuỗi cung ứng sử dụng kĩ thuật số và khoa học để có thể bắt kịp với nhịp độ phát triển.

Dưới đây là một vài phát hiện đáng chú ý từ báo cáo nghiên cứu thường niên do công ty Infosys Consulting, Đại học Penn State, Pensake Logistics và Korn Ferry hợp tác thực hiện.

Thách thức hàng đầu khi đưa ra quyết định Chuỗi cung ứng

Các thách thức có thể được nhìn nhận từ hai quan điểm khác nhau: các công ty sản xuất và phân phối hàng hóa hoặc nhà cung cấp dịch vụ 3PL.

Đứng từ cái nhìn của các công ty sản xuất và phân phối hàng hoá dịch vụ, theo thứ tự, 9 mối quan tâm hàng đầu là: cơ sở hạ tầng; lực lượng lao động; nền kinh tế ổn định; minh bạch trong vận chuyển hàng hóa / chuỗi cung ứng; đối tác chiến lược / nhà cung cấp chiến lược trong khu vực; quy định pháp lý/ chính sách thuế; tình hình an ninh / tội phạm / tham nhũng; năng lực điều hành.

Nhóm doanh nghiệp 3PL cũng có cho mình những mối quan tâm tương tự, song thứ tự ưu tiên lại có một số khác biệt khi cơ sở hạ tầng, lực lượng lao động và năng lực quản lý được đưa lên đầu tiên.

Bán hàng đa kênh

Trong năm 2018 đã nổi lên cách thức mua sắm trực tuyến với hình thức giao hàng tận nhà hoặc lấy tại tiệm mà vẫn có thể ghé thăm cửa hàng thường xuyên để mua sắm hoặc hoàn trả sản phẩm.

Sự khác nhau giữa Omni Channel và Multi channel

Sự kết hợp này được gọi là Omni-channel. Với mô hình Omni-channel, sản phẩm kinh doanh được đồng bộ trên các kênh bán hàng và hoạt động trơn tru trên 1 hệ thống quản lý. Thúc đẩy khách hàng mua sắm nhiều hơn, trải nghiệm liền mạch ở bất cứ đâu dù khách hàng online bằng di động hay laptop, trên sàn thương mại điện tử hay tại cửa hàng.

Khảo sát kết quả kinh doanh năm 2017 của phầm mềm quản lý bán hàng Sapo.vn thực hiện cho thấy hầu hết các cửa hàng đều tận dụng trên 2 kênh bán hàng, trong đó Facebook, website, Zalo/Instagram, cửa hàng bán lẻ, đại lý là những kênh trực tuyến được đánh giá hiện quả nhất.

Thiên tai đe dọa đến liên kết trong chuỗi cung ứng

Khi gián đoạn xảy ra do thiên tai, thời tiết khắc nghiệt hoặc đại dịch, các siêu thị luôn thiếu các mặt hàng thiết yếu trong gia đình và các sản phẩm trên mạng sẽ nhanh cháy hàng. Sự tác động chính nằm ở chi phí vận tải và hậu cần gia tăng. Sự gián đoạn vận chuyển và mạng lưới hậu cần khiến chi phí nhà cung cấp chịu tăng cao hơn.

Nghiên cứu lưu ý rằng hai công cụ mà các doanh nghiệp và công ty logistics bên thứ ba có thể sử dụng để giảm thiểu rủi ro là công cụ giám sát và các mối quan hệ đối tác .Trong lĩnh vực phân tích dự đoán, 33% các 3PL và 17% các doanh nghiệp đang sử dụng những công cụ tiên tiến này.

Tầm quan trọng của chia sẻ dữ liệu

Chìa khóa cho mối quan hệ giữa các công ty vận tải 3PL là việc xây dựng nền tảng chia sẻ được thực hiện trong quá trình yêu cầu đề xuất (RFP). Nó đảm bảo rằng cả hai mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của cả hai bên được hiểu đúng và có những kỳ vọng hợp lý.

Trong nghiên cứu cho thấy, 36% các shipper và 25% công ty 3PL đều nhất trí về sự cần thiết của cơ hội cho đội ngũ sale giữa các bên có thể trao đổi và chia sẻ insight, dữ liệu khách hàng với nhau.

Biên tập: Hương Duyên

Quản lý tồn kho dự phòng trong chuỗi cung ứng phân cấp

0

Trên lý thuyết, mỗi mắt xích của chuỗi cung ứng đều có một sự phân phối về cung và cầu xác định để qua đó doanh nghiệp có thể thiết lập mức tồn kho dự phòng (safety inventory) cần thiết. Tuy nhiên, đó là một câu chuyện khác trong chuỗi cung ứng đa cấp.

Nhà bán lẻ cần phải nhận thức được nhu cầu thị trường cũng như những biến động của nguồn cung để thiết lập mức tồn kho dự phòng.
Nhà bán lẻ cần phải nhận thức được nhu cầu thị trường cũng như những biến động của nguồn cung để thiết lập mức tồn kho dự phòng.

Có thế lấy ví dụ bằng một chuỗi cung ứng đa cấp cơ bản gồm một nhà cung cấp và một nhà bán lẻ. Nhà bán lẻ cần phải nhận thức được nhu cầu thị trường cũng như những biến động của nguồn cung để thiết lập mức tồn kho dự phòng. Tuy nhiên, những biến động của nguồn cung lại phải phụ thuộc vào tồn kho dự phòng của nhà cung cấp.

Trong trường hợp đó, nếu nhà cung cấp có đủ hàng tồn kho khi nhà bán lẻ đặt hàng, thời gian giao hàng sẽ tương đối ngắn và ngược lại. Do vậy, việc nhà cung cấp tăng mức tồn kho dự phòng của chính mình có thể giúp giảm mức tồn kho dự phòng của nhà bán lẻ. Tóm lại, có thể nói mức tồn kho dự phòng ở mỗi mắt xích của chuỗi cung ứng đa cấp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Tồn kho bậc thang

Đến đây, một khái niệm mới có tên “tồn kho bậc thang” xuất hiện – đó chính là tổng lượng hàng tồn kho từ một mắt xích bất kì đến mắt xích cuối cùng trong chuỗi cung ứng. Tồn kho bậc thang của một nhà bán lẻ là lượng hàng lưu kho hoặc lượng hàng cung ứng đang đang được vận chuyển.

Trong khi đó, tồn kho bậc thang của một nhà phân phối lại bao gồm tất cả lượng tồn kho của các nhà bán lẻ được cung ứng bởi nhà phân phối đó.

Mô hình ví dụ về chuỗi cung ứng đa cấp sản phẩm ketchup.

Trong chuỗi cung ứng đa cấp, điểm đặt hàng lại (reorder point) hoặc mức tồn kho cần đảm bảo (order-up-to level) tại mọi mắt xích của chuỗi cung ứng đều cần được thiết lập dựa trên tồn kho bậc thang chứ không phải theo tồn kho riêng của mắt xích đó. Do vậy, nhà phân phối nên quyết định mức tồn kho dự phòng dựa trên mức tồn kho dự phòng của tất cả nhà bán lẻ mà nhà phân phối đó cung ứng.

Điều kiện cần để đưa ra quyết định lượng tồn kho

Nếu tất cả bộ phận của một chuỗi cung ứng đều muốn quản lý tốt lượng tồn kho bậc thang của mình, việc phân chia lượng tồn kho cho mỗi bộ phận là điều rất quan trọng. Phân chia tồn kho ngược chiều chuỗi cung ứng (trong đó bộ phận xa khách hàng nhất sẽ được lưu kho nhiều nhất) giúp giảm thiểu lượng tồn kho ở mỗi giai đoạn.

Bộ phận kho xa khách hàng nhất sẽ được có tồn kho cao nhất.

Tuy nhiên, việc phân chia như vậy làm tăng khả năng có một khách hàng phải chờ đợi chỉ vì mắt xích gần nhất trong chuỗi cung ứng – có thể là một nhà bán lẻ – không thể cung cấp sản phẩm theo yêu cầu.

Do đó, trong chuỗi cung ứng đa cấp, mỗi quyết định đưa ra cần phải được dựa trên lượng tồn kho dự phòng của các bộ phận khác nhau. Nếu chi phí lưu kho cao và khách hàng có thể chấp nhận trì hoãn giao hàng, lượng lưu kho dự phòng nên được phân chia ngược chiều chuỗi cung ứng để tận dụng lợi ích của việc lưu kho kết hợp.

Ngược lại, nếu chi phí lưu kho rẻ và khách hàng thường thiếu kiên nhẫn, doanh nghiệp nên lựa chọn phương án phân chia tồn kho dự phòng xuôi chiều chuỗi cung ứng, tức là mắt xích gần khách hàng nhất sẽ có lượng lưu kho cao nhất.

Biên tập: Quang Nghĩa

Thiên tai – Kẻ thù của các nhà máy tự động hóa và Logistics

0

Tại Hoa Kỳ, mỗi mùa tuyết rơi đều khiến cho các công ty Logistics phải hủy chuyến hàng giữa hai thành phố Detroit và Ontario. Thậm chí đã từng có một cơn bão quá dữ dội khiến cho cao tốc 402 gần cảng Huron, Michigan và gần Cầu Blue Water phải đóng cửa. Trong đợt bão đó có 6 xe tải chở linh kiện đến nhà máy Brampton của tập đoàn Chrysler LLC đã chậm 36 tiếng đồng hồ.

Thiên tai - Kẻ thù của các nhà máy tự động hóa và Logistics
Thiên tai – Kẻ thù của các nhà máy tự động hóa và Logistics

Vận chuyển chậm trễ đã khiến nhà máy tự động của tập đoàn này phải ngưng sản xuất. Cơ sở sản xuất của Chrysler Brampton không phải là nhà máy duy nhất bị ảnh hưởng từ cơn bão này. Hơn 70 % hoạt động giao thương giữa Mỹ và Canada đều phụ thuộc vào cây cầu Blue Water. Chi phí tổn thất ước tính trong vòng 36 giờ tăng cao ngất ngưỡng.

Hầu hết các nhà máy tự động hóa đều dựa vào sản xuất “tức thời” – just in time manufacturing, do đó tồn kho chỉ được bổ sung khi cần thiết chứ không dự trữ nhiều. Trong trường hợp thường ngày, đây là một quy trình tối ưu, và theo Business Forward Foundation thì cách thức này giúp giảm chi phí lưu kho linh kiện một giờ khoảng 950.000 đô.

Nhưng một khi thiên tai ập tới, cái giá phải trả ước tính có thể lên tới 1,25 triệu đô một giờ đối với các nhà máy tự động. Điều này cũng tương tự khi có các yếu tố ngoài thiên tai làm đình trệ đến hoạt động sản xuất. Lý do là vì mô hình “just in time” phụ thuộc phần lớn vào sự đúng giờ của bộ phận vận chuyển, một phút trễ so với kế hoạch có thể khiến nhà xe bị phạt lên tới 10.000 đô.

Mặc dù trên thực tế, các doanh nghiệp không bị ảnh hưởng nhiều về mặt tài chính. Song, trải nghiệm khách hàng chính là điều khiến họ lo lắng nếu sản xuất bị đình trệ. Và để không vấp phải vấn đề này, các phương án phòng chống thiên tai là điều cần thiết cho doanh nghiệp. Mấu chốt chính là sở hữu một kế hoạch giải quyết tất cả các tình huống có thể phát sinh gắn liền với các viễn cảnh.

Các viễn cảnh đó bao gồm trì hoãn do thời tiết, hỏa hoạn, hư hỏng máy móc, đình công, vấn đề nhà cung cấp, và nhiều rủi ro khác. Bước đầu tiên mà doanh nghiệp nên làm là dành thời gian và tài nguyên để diễn tập các tình huống trên.

Cháy rừng tại California khiến giao thông di chuyển chậm và các tài xế, hàng hóa gặp nguy hiểm.
Cơn bão tuyết làm tê liệt cao tốc 402 gần cảng Huron, Michigan
Bão tuyết làm tê liệt cao tốc 402 gần cảng Huron, Michigan

Theo một nghiên cứu của Accenture cho thấy, trong 73% doanh nghiệp đối mặt với thiên tai trong 5 năm qua, chỉ có 17% dành thời gian đánh giá và định lượng thiệt hại đã hứng chịu.

“67% các quản lý cho rằng các rủi ro kia khá là phổ biến và không cần thiết định lượng chi tiết. Và chính số đông này không ý thức về những rủi ro tiềm năng khác mà doanh nghiệp mình sẽ gặp phải trong tương lai.”

– Theo giám đốc Accenture Jade Rodysill nhận định –

Lâp kế hoạch dự phòng và bài học kinh nghiệm

Đợt thiên tai trong 10 năm đầu thế kỷ 21 như bão Katrina, động đất Nhật Bản năm 2011, siêu bão Sandy năm 2012 đã cho các giám đốc chuỗi cung ứng nhiều bài học đắt giá. Nhờ vậy, ngành công nghiệp trong những năm gần đây chứng kiến nỗ lực của các chuyên gia nằm xác định và phân tích các điểm yếu đồng thời đưa ra giải pháp.

Siêu bão Katrina làm hư hại đến các công trình giao thông tại Hoa Kỳ.
Lũ lụt khiến giao thông đình trệ nhiều ngày, gây thiệt hại hàng triệu đô cho nước Mỹ trong siêu bão Katrina.

Các giáo sư Sunil Chopra và ManMohan Sodhi đến từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) lưu ý một số “giải pháp” rõ ràng nhưng hữu dụng như: tăng lượng tồn kho dự phòng, bổ sung lưu trữ tại các địa điểm khác nhau và cải thiện số lượng cùng chất lượng của nhà cung cấp.

Song, mặc dù đã được các học giả cảnh báo và hiểu được tầm nghiêm trọng của vấn đề, các nhà quản lý hầu như phản ứng khá chậm. “Lý do là vì các giải pháp nói trên làm ảnh hưởng đến nỗ lực giảm thiểu chi phí chuỗi cung ứng”.

Ví dụ, một doanh nghiệp, khi đã lựa chọn thuê nhà cung cấp giá rẻ bên ngoài để giảm chi phí sản xuất, sẽ nghĩ đến việc di chuyển quy trình sản xuất về gần thị trường tiêu thụ hơn để loại trừ rủi ro gián đoạn trong chuỗi cung ứng.

Vậy thì, làm cách nào các doanh nghiệp có thể cân bằng được giữa chiến lược giảm thiểu chi phí và dự phòng cho thiên tai?

Dự phòng rủi ro

Nhà sản xuất cần thiết loại bỏ các rủi ro gián đoạn trong chuỗi cung ứng mà có thể lan rộng và dẫn đến gián đoạn trên diện rộng. Đặc biệt là những nhà sản xuất phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp linh kiện. Mặc dù hai bên có thể có mối quan hệ bền vững đôi bên cùng có lợi, song, chỉ cần một cơn bão, một vụ hỏa hoạn hay vỡ nợ cũng có thể khiến nhà sản xuất tê liệt.

Một nhà cung cấp tốt có thể là lựa chọn hàng đầu, tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần phải hợp tác với hai hoặc ba supplier dự phòng khác. Những supplier dự phòng nên tọa lạc ở các cùng địa lý khác nhau để giảm thiểu khả năng tác động của yếu tố ngoại cảnh.

Phương án Vận chuyển Dự phòng

Khi CEO của Ann Taylor, Kay Krill và Loft bàn luận về tình hình hoạt động tài chính mờ nhạt của công ty vào cuối năm 2014, cô chỉ ra rằng “tình hình nhân lực tại các cảng bờ Tây đã khiến số hoãn chuyến tăng mạnh trong nửa đầu quý 3 và chi phí vận tải đường hàng không cũng tăng trong cuối giai đoạn đó.”

Thực tế, khủng hoảng tại cảng Bờ Tây đã khiến cho các các công ty dịch vụ Logistics phải tăng “khẩn cấp” phí dịch vụ. Từ việc “cứu hộ” các lô hàng mắc kẹt bằng trực thăng cho tới tái định tuyến vận tải, các công ty Logistics đã chứng tỏ năng lực của mình khi thực hiện nhiều phương án dự phòng khi khẩn cấp.

Các công ty Mỹ và Canada đang có xu hướng chuyển sang các dịch vụ vận tải khẩn cấp hơn là diễn tập các kế hoạch B dự phòng. Trong nhiều trường hợp, các chi phí gia tăng để lập kế hoạch B có thể được giảm thiểu bởi dịch vụ vận chuyển an toàn mà vẫn đảm bảo độ hài lòng của khách hàng.

Chuyên gia Maria Llamas khẳng định tầm quan trọng của việc chọn các nhà vận chuyển chính và phụ trước khi trường hợp khẩn cấp thực sự diễn ra.

“Thực hiện các biện pháp dự phòng cho phép các nhà vận chuyển tối ưu hóa thời gian giao hàng của mình”.

Biên tập: Minh Tuấn

Mùa lễ Tạ ơn: Khi gà tây gặp chuỗi cung ứng số

0

Vào ngày thứ 5 cuối cùng của tháng mười một, các gia đình ở Mỹ sẽ quây quần bên nhau và cùng nhau thưởng thức món ăn truyền thống nổi tiếng làm nên bản sắc của lễ Tạ ơn hằng năm – gà tây.

Lễ Tạ ơn: khi gà tây gặp chuỗi cung ứng số
Lễ Tạ ơn: khi gà tây gặp chuỗi cung ứng số

Gà tây đã thực sự trở thành biểu tượng mỗi khi nhắc đến lễ Tạ ơn. Nghiên cứu cho thấy rằng có đến 52 triệu con gà tây được tiêu thụ mỗi dịp lễ với giá trung bình là $1.2 mỗi pound. Quả là một nhu cầu khổng lồ và đặc biệt, tất cả chỉ diễn ra trong một ngày lễ duy nhất.

Mặc dù các nông dân Mỹ chăn nuôi 254 triệu con gà tây, với tổng giá trị là 4.85 tỷ đô mỗi năm nhưng việc đưa được chúng tới từng bàn tiệc của gia đình lại là một bài toán hóc búa với chuỗi cung ứng.

Không giống như rượu, loại đồ uống dễ trữ qua thời gian, gà tây có thể bị hư hỏng nhanh nên việc trữ với số lượng lớn rất khó. Và việc nuôi một lượt hằng triệu con để kịp giao hàng cho lễ Tạ ơn gần như là một “nhiệm vụ bất khả thi”.

Vậy giải pháp là gì?

Thực tế ước tính cho thấy có đến hơn 90% nguồn cung gà tây cho lễ Tạ ơn là loại gà đông lạnh. Tuy vậy, việc sản xuất, trữ trong kho và giao hàng chúng còn đắt hơn là giá bán tại các cửa hàng, điều đó có nghĩa là các nhà sản xuất đang mất nhiều tiền hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Vậy vẫn với câu hỏi cũ, giải pháp là gì?

Với việc tích hợp kế hoạch kinh doanh và công nghệ số vào chuỗi cung ứng, các nhà sản xuất hoàn toàn có thể giảm thiểu chi phí để tối đa hóa lợi nhuận đạt được. Một cách để tối ưu hóa chuỗi cung ứng của bạn đó chính là hệ thống quản lý tồn kho đa cấp (multi-echelon inventory optimization – MEIO).

Tối ưu hóa tồn kho

Giả sử bạn là một nhà cung cấp lớn phục vụ cho khách hàng ở địa phương hoặc thậm chí là toàn quốc. Một các để tối ưu hóa chuỗi cung ứng – cho gà tây hoặc bất kỳ mặt hàng gì – chính là hệ thống tối ưu hóa tồn kho đa cấp (MEIO).

Martin Barkman, phó tổng giám đốc công ty giải pháp chuỗi cung ứng số SAP viết trong một blog, “Ý tưởng đằng sau MEIO là khi tối ưu hóa nhà kho cá nhân mang lại hiệu quả thấp, chúng ta sẽ mở rộng, phân cấp nhà kho thành trung tâm, khu vực và địa phương.”

MEIO cân nhắc toàn bộ chuỗi cung ứng, cho phép các doanh nghiệp tối ưu hóa mức độ tồn kho thông qua nhiều trung tâm phân phối dưới hỗ trợ của công nghệ thông tin. “Những nghiên cứu sâu bằng phương pháp phân tích nâng cao như máy học (machine learning) có thể giúp các planner đặt mục tiêu cho từng kho phân nhánh đồng thời phân tích được điều gì thực sự đang thúc đẩy nhu cầu của khách hàng.”

Logistics hiện đại cũng là một yếu tố then chốt. Để đảm bảo có được đúng số gà tây đúng thời gian và địa điểm – tại mức chi phí phù hợp – bạn cần tối ưu hóa lộ trình vận chuyển. Với các cảm biến và phân tích theo thời gian thực sử dụng dữ liệu như: vị trí bãi đỗ xe, loại hình giao thông, đặc điểm giao thông, một doanh nghiệp có thể tối ưu hóa tuyến đường và tận dụng tối đa hệ thống logistics của mình.

Với công nghệ IoT (Internet of Things), đội ngũ Logistics hoàn toàn có thể theo dõi nhiệt độ theo thời gian thực và có biện pháp khi phát hiện vấn đề.

Một mối bân tâm khác là bảo quản hàng hóa trong khi vận chuyển. Trong trường hợp gà tây đông lạnh, một trong những thử thách chính là duy trì nhiệt độ chuẩn xác của thùng xe. Với công nghệ IoT (Internet of Things), đội ngũ Logistics hoàn toàn có thể theo dõi nhiệt độ theo thời gian thực và có biện pháp khi phát hiện vấn đề.

Tươi sống mới là chuẩn nhất

Loại công nghệ tương tự cũng có thể được áp dụng để tối đa lợi nhuận trong phân khúc thị trường gà Tây ngày lễ Tạ ơn: gà Tây tươi sống.

Gà tây tươi sống là một phân khúc thị trường sinh lời khá cao trong đợt cao điểm giáng sinh hoặc lễ Tạ ơn tại Mỹ.

Với các quy chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, vận chuyển các sản phẩm tươi là điều vô cùng khó. Song, với các phương pháp phân tích dữ liệu hiện đại, doanh nghiệp có thể đầu tư hệ thống tối ưu tuyến vận chuyển từ trang trại đến bàn ăn, các nhà cung cấp có thể vận chuyển gà tây tươi sống với số lượng lớn. Cảm biến IoT sẽ giám sát chất lượng, nhiêt độ và thời gian vận chuyển. Tất cả sẽ giúp khách hàng tin tưởng hơn về chất lượng thực phẩm mà họ đã tin dùng.

Biên tập: Phương Thy

Điểm mặt một số cảng biển quốc tế lớn trên thế giới

0

Trong cuộc hành trình thú vị này, vượt qua Thái Bình Dương, con tàu LSC sẽ đưa các bạn ghé thăm những cảng biển quốc tế sầm uất nhất ở miền Tây nước Mỹ, khu vực Châu Âu lâu đời, Châu Á năng động. Nào, chúng ta cùng khởi hành thôi!

1. Hoa Kỳ

Cảng Los Angeles

TraPac Container Terminal

>> Cảng Los Angeles là một tổ hợp cảng lớn nhất ở Hoa Kì về lượng hàng hóa bốc dỡ (8,07 triệu TEUs năm 2012). Cảng nằm trên vịnh San Pedro ở San Pedro, cách trung tâm thành phố Los Angeles  32 km về phía Nam. Các đối tác thương mại hàng đầu của cảng gồm các quốc gia: Trung QuốcNhật BảnĐài LoanHàn QuốcThái Lan với những hàng hóa chủ yếu là  đồ nội thất, giày dép, đồ chơi, phụ tùng ô tô và hàng may mặc.

Cảng Long Beach

1932-port-of-long-beach-pier-b-rail-yard-855

>> Cảng Long Beach là hải cảng lớn thứ hai của Mỹ (sau cảng Los Angeles) về số lượng container bốc dỡ (6,05 triệu TEUs năm 2012), đứng thứ 22 trong top 25 cảng container lớn của thế giới. Cảng này hoạt động như một “cửa ngõ” chính cho thương mại từ Mỹ sang châu Á, đi qua Thái Bình Dương.

2. Châu Âu

Cảng Rotterdam, Hà Lan

Rotterdam_port_2_1320_892_60

>> Cảng Rotterdam là cảng biển lâu đời và lớn nhất khu vực, đồng thời cũng là trung tâm Logistics của Châu Âu. Cảng nằm ở thành phố Rotterdam, Zuid-HollandHà Lan. Từ năm 1962 đến năm 2004, Rotterdam  là cảng bận rộn nhất thế giới, tuy nhiên hiện nay đã bị cảng Thượng Hải và cảng Singapore vượt qua. Mặc dù vậy, Rotterdam vẫn là cảng bảo đảm chân hàng dồi dào, ổn định, phong phú, giải phóng tàu nhanh với lực lượng lao động nghề nghiệp giỏi, sầm uất nhất châu Âu.

Cảng Hamburg, Đức

Copy102e30d65faf3eeafc612784e90c7cc27_XL

>> Cảng Hamburg là một cảng ở HamburgĐức,  nằm bên bờ sông Elbe. Cảng có cự ly 110 km từ cửa sông Elbe đổ vào Biển Bắc. Nó được gọi là “Cửa ngõ vào thế giới” của Đức và là cảng lớn nhất ở Đức. Đây là cảng bận rộn thứ hai ở châu Âu (sau cảng Rotterdam) về lượng TEU thông qua (8,9 triệu TEUs năm 2012, xếp thứ 14 trên toàn thế giới).

3. Châu Á

Cảng Thượng Hải, Trung Quốc

shanghai_port

>> Cảng Thượng Hải là cảng lớn nhất thế giới dựa theo lượng container cập cảng (2000 tàu container mỗi tháng) và hàng hóa (736 triệu tấn mỗi năm). Nằm trên cửa ngõ của vùng biển Đông Trung Quốc, sông Dương Tử, cảng Thượng Hải nắm giữ một vị trí quan trọng đối với thương mại nước ngoài.

Việc xuất nhập khẩu hàng năm trên khắp Thượng Hải giúp nước này vượt lên Mỹ, trở thành quốc gia có nền thương mại lớn nhất thế giới.

Cảng Singapore, Singapore

Tanjong-Pagar-Terminal-Singapore

>> Cảng Singapore là cảng container lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Cảng Thượng Hải. Năm 2013, lượng hàng hóa bốc xếp tại cảng Singapore đạt 32,630 triệu TEU. Cảng Singapore đã kết nối tới hơn 600 cảng ở 123 quốc gia. Rất nhiều hàng hóa xuất khẩu của nước ta đã được trung chuyển qua cảng này trước khi vận chuyển đi thị trường các nước châu Âu, Hoa Kì và ngược lại.

Cảng Busan, Hàn Quốc

P1_New-Port

>> Cảng Busan, nằm ở cửa sông Naktong Hàn Quốc, là cảng lớn thứ năm trên thế giới dựa trên lượng hàng hóa (298 triệu tấn hàng trong năm 2013). Cảng Busan có 4 bến cảng hiện đại được trang bị đầy đủ là bến cảng Bắc, bến cảng Nam, bến cảng Dadaepo và bến cảng Gamcheon. Cảng Busan xử lý 40% tổng cước phí xuất khẩu, 80% cước vận chuyển container và 42% sản lượng thủy sản của Hàn Quốc. Những số liệu trên cho thấy vị trí quan trọng của cảng trong nền kinh tế Hàn Quốc.

5. Việt Nam

Cảng Hải Phòng

hai-phong-port-644-1451464899074

>> Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, lớn thứ 2 ở Việt Nam và lớn nhất miền Bắc, là cửa ngõ quốc tế của Việt Nam với thế giới. Trong đó, bến container Tân Cảng tại khu vực Đình Vũ là cảng biển đầu tiên tại Hải Phòng có đủ điều kiện kỹ thuật cho phép tàu có trọng tải 2 vạn tấn ra vào làm hàng, phù hợp với “Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển phía Bắc định hướng đến năm 2020”.

Cảng Đà Nẵng

cang-da-nang-

>> Nằm trong Vịnh Đà Nẵng, với vị trí vô cùng thuận lợi, Cảng Đà Nẵng là cảng biển nước sâu lớn nhất khu vực miền Trung Việt Nam. Năm 2014, Cảng Đà Nẵng đạt sản lượng cao nhất trong các năm vừa qua. Sản lượng hàng hóa qua Cảng Đà Nẵng đạt mức kỷ lục 6.022.045 tấn, tăng 9,5% so với kế hoạch và tăng 20,19% so với năm 2013. Đối với hàng container, sản lượng hàng năm 2014 đạt 227.340 Teus, tăng 36,5% so với năm 2013.

Cảng thành phố Hồ Chí Minh

984SGP

>> Cảng thành phố Hồ Chí Minh, hay còn gọi là cảng Sài Gòn là một hệ thống các cảng biển tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tân Cảng Cát Lái, Cái Mép, Hiệp Phước,…) đóng vai trò là cửa ngõ của miền Nam (bao gồm cả Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long) trong các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Năm 2015, Cảng thành phố Hồ Chí Minh vinh dự được đứng trong top 25 cảng container của thế giới. Một thành tích thật đáng tự hào phải không nào !

  • Lời kết:

Sự chú trọng về đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển cảng biển ở các quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc đã mang lại danh hiệu số một trên toàn thế giới cho khu vực châu Á về qui mô cũng như số lượng hàng hóa bốc dỡ tại cảng, vượt qua những đối thủ mạnh khác như châu Âu và Bắc Mỹ. Việt Nam đã và đang có những bước tiến triển vượt bậc trong việc xây dựng, vận hành cảng biển quốc tế trong những năm gần đây. Chúng ta cùng hi vọng rằng trong tương lai, cảng biển ở Việt Nam sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ và đem lại nguồn lợi kinh tế “khổng lồ” cho đất nước.

Cảm ơn các bạn độc giả đã tham gia chuyến đi này đến giây phút cuối cùng.

Biên tập: Xuân Thành