3 khó khăn chuỗi cung ứng đối mặt sau đại dịch

Trở lại với mức độ nghiêm trọng hơn, cơn bùng dịch đã làm thay đổi hướng phát triển và vận hành của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Trước tình hình khó khăn như thế, chính phủ nhà nước đã ra các loạt chỉ thị hạn chế người dân ra đường, thiết lập giờ giới nghiêm tại các vùng tâm dịch.
Bài viết kì trước: Logistics trở lại đường đua 

Tất cả các yếu tố trên dần dẫn đến hàng loạt các chuyển dịch lớn, nhiều công ty phá sản, doanh thu các quý có xu hướng giảm mạnh so với cùng kỳ hàng năm, thiếu hụt lượng lao động. 

Theo Hiệp Hội dệt may Việt Nam, 30%-50% các xưởng may mặc buộc phải ngừng hoạt động do không đáp ứng đủ tiêu chí an toàn được đặt ra bởi chính phủ. Tại góc độ lớn hơn ở nhiều thị trường khác, theo công ty tư vấn chuỗi cung ứng CEL, loạt các nhà máy hiện chỉ đang vận hành được 50%-70% công suất bình thường. Xu hướng sa sút trong quá trình vận hành này có thể truy từ việc thiếu hụt các nguồn cung trọng yếu.

Sau đây là một số các khó khăn chung có thể kể đến mà phần lớn doanh nghiệp đang gặp phải trong thời điểm hiện tại, và theo đó là những hướng giải quyết mà đã và đang được áp dụng, tất chỉ để giữ cho chuỗi cung ứng dần quen với môi trường đầy sự cố và trở ngại. Các khó khăn và phương hướng giải quyết sau đều xoay quanh sự hiện diện của dòng thông tin trong chuỗi cung ứng.

Độ thiếu trực quan trong tình hình của các nhà cung cấp

Theo PwC Việt Nam, trong báo cáo “Hậu COVID-19: Chuỗi cung ứng cho tương lai”, 45% lượng đại diện doanh nghiệp cho rằng họ ‘muốn hiểu rõ hơn về tình hình tài chính và hoạt động của các nhà cung cấp hiện nay và trong tương lai’.

Độ thiếu trực quan trong tình hình của các nhà cung cấp
Độ thiếu trực quan trong tình hình của các nhà cung cấp

Có thể thấy, khó khăn không chỉ xảy đến với một doanh nghiệp trong tình hình dịch bệnh, bởi thế tình hình hoạt động và tài chính của một nhà cung ứng bất kỳ sẽ khó tránh khỏi xu hướng sa sút, đình trệ. Chính bởi vì vấn đề này mà đối với những ‘mối quen’ giữa các bên doanh nghiệp sẽ có thể không tiếp tục hợp tác được nữa khi một bên có thể sẽ gặp sự cố bất cứ khi nào. 

Để giảm thiểu tác động của rủi ro không có nguồn hàng, các doanh nghiệp đã và đang mở rộng tập nhà cung ứng của mình lên. Khi có một bên nguồn hàng gặp trục trặc thì vẫn sẽ còn những nguồn hàng khác, đảm bảo tính an toàn cho lượng hàng nhập về. Cùng ấn phẩm được thực hiện bởi PwC được đề cập trên, có hơn 50% số doanh nghiệp thực hiện khảo cho rằng họ sẽ hướng đến việc mở rộng nguồn nguồn cung phụ trợ. Bởi vậy việc tránh phụ thuộc hết vào một bên trong thời điểm hiện tại sẽ làm giảm xác suất bị thiếu hụt hàng.

Lỗ hổng thông tin trong quá trình vận chuyển hàng hóa

Khoảng thời gian từ thời điểm một doanh nghiệp đặt hàng đến khi nhận được hàng đa phần tồn tại một lỗ hổng thông tin. Cùng kỳ báo cáo của PwC Việt Nam, tầm 30% các bên doanh nghiệp còn thấy sự cần thiết trong việc nâng cao tính minh bạch trong hệ thống nhà cung cấp. Để từ đó mà các phương án phòng chống rủi ro mới được củng cố và rõ ràng hơn.

Lỗ hổng thông tin trong quá trình vận chuyển hàng hóa
Lỗ hổng thông tin trong quá trình vận chuyển hàng hóa

Để giải quyết các vấn đề này, các công ty thường sẽ thiết lập hệ thống thông tin TMS (Transport Management System) để có thể dễ dàng biết được khi có sự cố thì dòng chảy hàng hóa bị gián đoạn tại đâu, và thời điểm nào. Từ đó mới có thể nhanh chóng lên tiếp được những phương án tiếp theo để giải quyết sự cố bị ngưng trệ hàng vận chuyển.

Đọc thêm: Những hành động giúp giảm thiểu tác động tiêu cực ảnh hưởng từ Covid-19 lên chuỗi cung ứng

Cầu thất thường và biến động mạnh

Dòng thông tin gặp chuyển biến từ phía cung là như vậy, còn phía cầu thì sao?

Nhu cầu khách hàng trong thời điểm hiện tại được nhận định là rất thất thường. Điển hình như vào thời điểm vài tháng trước, mặt hàng như khẩu trang, khăn giấy, cũng như là các nhu yếu phẩm luôn trong tình trạng cháy hàng. Điều này xuất phát từ việc mua hàng dưới tác động của yếu tố tâm lý hoảng loạn (panic-driven) trong thời đại dịch. Sự việc trên dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng không đáng có trong thời gian rất ngắn. Theo Kantar Asia Pulse #2, tăng trưởng thị phần FMCG tại Việt Nam rơi vào tầm 6,5% tại khu vực thành thị và 7,5% ở khu vực nông thôn.

Cầu thất thườn và biến động mạnh
Nhu cầu rất thất thường và xảy ra hiện tượng biến động mạnh

Chính vì tình hình trên mà các chuỗi cung ứng đã có hướng chuyển dịch lan rộng hơn giữa người tiêu dùng, với mục tiêu tăng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Thông tin người tiêu dùng giờ đây sẽ được sáp nhập vào tất cả các bên liên quan trong một chuỗi cung ứng (vertical integration). Từ đó các nhà máy sẽ biết được lượng nguyên vật liệu tối ưu là bao nhiêu, các bên chức năng kho sẽ dễ dàng tính toán được hơn lượng hàng tồn kho ở mỗi cấp trung chuyển (multi-echelon inventory) là bao nhiêu. Dữ liệu của khách hàng làm cho khả năng tinh chỉnh về mặt chất và lượng của hàng hóa tăng cao hơn.

Nhìn chung, việc trực quan hóa thông tin cho toàn bộ chuỗi cung ứng đang được thực hiện và áp dụng nhiều để tiếp đến có thể dễ dàng xác định được điểm có sự cố, và từ đó lên một phương pháp vận hành hoặc chiến lược phù hợp.

Đọc thêm: 3 phương pháp cải tiến trong quy trình quản lý chuỗi cung ứng

Bài viết kì tới: Cross-Docking là gì? Định nghĩa và ứng dụng Cross-Docking trong chuỗi cung ứng?

Nội dung: Phạm Duy

Hình ảnh: Hạnh Châu

Logistics trở lại đường đua

Đại dịch COVID-19 đã để lại ảnh hưởng nặng nề cho nền kinh tế-xã hội của Việt Nam, cụ thể hơn, trong ngành Logistics, chuỗi cung ứng đã liên tục bị gián đoạn và tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, mạng lưới phân phối của doanh nghiệp. Chính những khó khăn đó đã phần nào chỉ ra những thiếu sót, tình trạng kém hiệu quả của chuỗi cung ứng và tạo động lực để doanh nghiệp tái cấu trúc, nâng cao sự linh hoạt trong cách vận hành để thích ứng với diễn biến phức tạp của COVID-19

Đọc thêm: Những hành động giúp giảm thiểu tác động tiêu cực ảnh hưởng từ Covid-19 lên chuỗi cung ứng

Cùng điểm qua một vài thay đổi và tăng trưởng tích cực của ngành logistics trong bối cảnh COVID-19:

Xuất khẩu vẫn giữ được đà tăng trưởng

Dù phải đối mặt với các trở ngại của dịch bệnh, tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng nhờ vào tận dụng việc mở cửa sau khi các chính sách tiêm chủng được triển khai rộng rãi trên thế giới để đẩy mạnh xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau. Tính đến tháng 10/2021, tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam đạt 267,93 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. 

Xuất nhập khẩu vẫn trên đà tăng trưởng
Xuất nhập khẩu vẫn giữ được đà tăng trưởng

Sự tăng trưởng này phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây:

Thứ nhất, các quốc gia dần mở cửa trở lại và có nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam tăng cao. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các báo cáo hằng tháng về kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam trong giai đoạn sau đại dịch.

Thứ hai, triển khai thực thi hiệu quả các FTA: việc ký kết các FTA đã tạo cơ hội doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau, tránh phụ thuộc vào một thị trường nhất định. Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sau 10 tháng đầu năm 2021 với kim ngạch đạt 76 tỷ USD, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước, theo sau đó là Trung Quốc và thị trường EU lần lượt đạt 44,2 tỷ USD và 31,7 tỷ USD, tăng 16,8% và 8,9%.

Thứ ba, sức cầu của thế giới hồi phục mạnh: các nền kinh tế lớn có tốc độ phục hồi nhanh gây ra sự thiếu hụt hàng hóa trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, giá xuất khẩu tăng cũng góp phần thúc đẩy giá trị xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Những mặt hàng tăng trưởng tích cực nhất bao gồm:

  • Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 19,2 tỷ USD, tăng 15,1%. 
  • Nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản: ước tính đạt 3,03 tỷ USD, tăng 16,6%
  • Nhóm hàng công nghiệp chế biến: ước tính đạt 238,81 tỷ USD, tăng 17,3%

Đáng chú ý nhất, trong nhóm hàng nông sản, lâm sản, giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ đã đạt trên 10,8 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2021. Dự báo đà tăng trưởng này vẫn tiếp tục trong 2 tháng cuối 2021, đạt 23,3 tỷ USD – cao hơn so với những năm trước đại dịch COVID-19.

Trong quý IV và đầu năm 2022, nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng cao theo chu kỳ xuất nhập khẩu hàng hóa và tín hiệu phục hồi của cầu hàng hóa trên thị trường thế giới.

Logistics và thương mại điện tử

Trong giai đoạn COVID-19 bùng phát, nền thương mại điện tử đã chứng kiến sự gia tăng số lượng người tiêu dùng mua sắm trực tuyến nhờ vào sự an toàn và đơn giản của hình thức này so với những rào cản từ đại dịch. Dự báo trong 3 tháng cuối năm 2021, thương mại điện tử sẽ tăng trưởng ít nhất 10,7% và đến năm 2025, quy mô thương mại điện tử của Việt Nam sẽ đạt ngưỡng 43 tỷ USD và đứng thứ 3 trong khối ASEAN. 

Logistics và thương mại điện tử
Logistics và thương mại điện tử

Sự tăng trưởng cao của ngành thương mại điện tử đã mang lại nhiều cơ hội các doanh nghiệp logistics khi hầu hết các sàn thương mại điện tử đều không đủ nhân lực để xử lý đơn hàng. Tuy những công ty như Lazada, Shopee,.. đã xây dựng cho mình một mạng lưới phân phối nhưng họ vẫn cần hợp tác với các bên cung cấp dịch vụ logistics để vận chuyển các đơn hàng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Bên cạnh cơ hội để phát triển, các doanh nghiệp logistics phải đối mặt với những thách thức đến từ chi phí vận chuyển, xử lý đơn hàng,…

Nội dung: Ngọc Mai

Hình ảnh: Đức Huy

Logistics mùa Covid và những cột mốc ấn tượng

0
Lần đầu tiên trong suốt chiều dài lịch sử thành lập, lĩnh vực logistics đang phải đối mặt đợt khủng hoảng lớn nhất từ trước đến nay – COVID-19. Tuy nhiên, với những chính sách đổi mới kịp thời và sự hỗ trợ của chính phủ, ngành logistics Việt Nam vẫn đã và đang tạo ra những cột mốt vô cùng ấn tượng. 

Có thể nói thế giới đang phải qua một cơn ác mộng dai dẳng lần đầu tiên trong lịch sử và giấc mơ quái ác đó chính là COVID – 19. Trong suốt những đêm dài tâm tối, COVID – 19 đã và đang gây ra rất nhiều khó khăn cho mọi hoạt động xã hội, nhất là các hoạt động logistics. Cơn ác mộng mang tên “ĐẠI DỊCH” đã tác động nghiêm trọng khi các quy trình hải quan, để kiểm soát và chấm dứt giấc mơ dai dẳng này chính phủ của các nước trên khắp thế giới đã đặt ra những quy định nghiêm ngặt đối với quá trình di chuyển qua lại giữa các quốc gia và điều này đã làm cho quy trình hải quan bị kéo dài và hạn chế.

Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực quản lý và kiểm soát của Chính phủ, hoạt động Logistics của Việt Nam đã có thể tìm ra “chiếc đèn pin” để đi qua những đêm tăm tối này. Chưa dừng lại ở đó Logistics còn tạo ra những cột mốc ấn tượng trong giai đoạn vô cùng khó khăn. Trong đó phải kể đến những sự kiện quan trọng sau đây:

Khai thác đường tàu container chạy thẳng châu Âu

Khai thác đường tàu container chạy thẳng châu Âu
Khai thác đường tàu container chạy thẳng châu Âu

Vào ngày 20/7, đoàn tàu chuyên container đầu tiên, chạy thẳng đến châu Âu do Công ty Ratraco khai thác đã lăn bánh. Xuất phát từ ga Yên Viên, Hà Nội, Việt Nam đoàn tàu di chuyển đến điểm cuối cùng là thành phố Liege, Bỉ. Trong chặng hành trình vận chuyển, đoàn tàu sẽ đến ga Trịnh Châu, Trung Quốc và ghép nối với chuyến tàu Trung-Âu để đến điểm đích. Đoàn tàu này có sức chức tổng cộng 23 container loại 40 feet và chuyên dùng để vận chuyển các loại hàng hóa như dệt may, giày da.

Tính đến hết tháng 9/2021, tức sau gần 2 tháng đưa vào hoạt động, đường tàu đã vận chuyển được hơn 230 container loại 40 feet, tương đương 260 TEU. Nhận thấy được hoạt động này sẽ góp phần thúc đẩy việc xuất khẩu cũng như tạo điều kiện cho hàng hóa nội địa được phát triển, ngành đường sắt có tổ chức các tàu vận chuyển container đi các nước châu Âu và các tuyến vận chuyển hàng quá cảnh Trung Quốc sang Kazakhstan, Uzbekistan, Nga, Tajikistan, Ba Lan, Anh, Đức, Bỉ…Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế mà việc để các con tàu đi theo đoàn vẫn chưa thể thực hiện được. Trong đó, các tàu này sẽ xuất phát từ ga Yên Viên, Hà Nội đến các ga lập tàu Trung-Âu khác nhau phụ thuộc vào đích đến của hàng hóa.

Nhiều người dự đoán rằng ngành đường sắt sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong vài năm tới khi đại dịch COVID-19 đang bùng phát trên toàn cầu đã khiến vận tải đường biển quốc tế tồn tại nhiều rủi ro hơn. Vận tải đường sắt với nhiều ưu thế hiện đang là đối tác vận chuyển đáng tin cậy nhất để vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam sang Châu Âu. Do các hệ thống kết nối đường sắt liên quốc gia đang đạt được hiệu quả nhất định, ngoài ra loại hình này cũng làm cho thời gian vận chuyển có độ chính xác cao nhưng với một chi phí vận tải cực kỳ phù hợp trong thời kỳ khó khăn như hiện nay. Ngoài những lợi ích về kinh tế, việc vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt còn giảm thiểu sự tác động đến môi trường – một vấn đề được đặc biệt quan tâm bởi nhiều tổ chức.

Hoạt động vận tải biển tiếp tục tăng trưởng

Hoạt động vận tải biển tiếp tục tăng trưởng
Hoạt động vận tải biển tiếp tục tăng trưởng

Mặc dù đại dịch Covid-19 gây cản trở hoạt động sản xuất và vận chuyển trên toàn thế giới, kể cả Việt Nam, nhưng nhờ có những sự nỗ lực kiểm soát và quản lý của Nhà nước, hoạt động vận tải biển của nước ta vẫn trên đà tăng trưởng và đem lại lợi ích cho đất nước.

Về sản lượng hàng hóa, trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam ước tính hơn 535,7 triệu tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2020. Đặc biệt trong đó, khu vực phía Nam là khu vực chịu tác động mạnh của đại dịch Covid-19, bằng chứng là nhiều hàng hóa thông qua một số cảng biển lớn ở đây đang phải chịu nhiều ảnh hưởng. Tuy nhiên, tổng khối lượng container qua cảng biển trên cả nước vẫn duy trì tăng trưởng khả quan, ước tính đạt gần 18,6 triệu TEU và tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Về số lượt tàu qua cảng, trong 8 tháng đầu năm 2021, tổng số lượt tàu thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước tính hơn 86.800 lượt. Trong đó, tàu mang quốc tịch nước ngoài chiếm hơn 43.200 lượt, tăng trưởng 9% so với cùng kỳ năm ngoái và tàu mang quốc tịch Việt Nam gần 43.600 lượt, tăng trưởng 2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Mặc dù, cơn ác mộng COVID-19 vẫn còn đeo bám và những ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch vẫn sẽ là hòn đá cản đường Logistics phát triển. Nhưng đến thời điểm hiện tại, với sự hỗ trợ của chính phủ và sự thay đổi để thích nghi của ngành Logistics, chúng ta hoàn toàn có quyền tự tin về một tương lai tương sáng và những cột mốc ấn tượng tiếp theo của ngành Logistics Việt Nam.

Nội dung: Yến Giang

Hình ảnh: Đức Huy

[CEL CONSULTING] SUPPLY CHAIN CONSULTING INTERN HIRING

Oh Hello!

We’re hiring SUPPLY CHAIN CONSULTING INTERN

  • Full-time, Ho Chi Minh City
  • Required Internship Length: minimum 4 – 6 months
  • Apply here at https://www.cel-consulting.com/apply or Email your CV to recruitment@cel-consulting.com

REQUIREMENTS

  • Bachelor degree (master degree is a strong plus) in Mathematics Engineering, Information Technology, Supply Chain, Industrial Engineering, Applied science, Data Science
  • Proficiency in English is imperative
  • Systemic thinking, Logical Reasoning, Data Mining & Conceptualization
  • Good at data processing skills using analytical tools (e.g: R, SQL, Python, Excel) is a strong plus
  • Good communication skills, both verbal and written – communicate to the point clearly and efficiently
  • Curious, open minded, ready to engage and debate in order to learn and develop continuously

Due to Covid-19 travel restrictions, this internship is offered to those who are currently based in Ho Chi Minh City.

BULLWHIP EFFECT – HIỆU ỨNG “CÁI ROI DA” TRONG BỐI CẢNH COVID-19

0

Hiệu ứng Bullwhip là hiện tượng thông tin về nhu cầu thị trường cho một sản phẩm bị sai lệch đáng kể hay khuếch đại lên qua từng khâu trong chuỗi cung ứng, dẫn đến sự biến động trong nguồn cung và dư thừa tồn kho, từ đó ảnh hưởng đến giá cả của sản phẩm đồng thời làm bóp méo thị hiếu thực tế của thị trường.

1. “Cái roi da” – hiểu sao cho đúng?

Điển hình của hiệu ứng BULLWHIP là nguồn cung của các mặt hàng y tế trong bối cảnh COVID-19 vừa qua. Giả sử, một hiệu thuốc bán được 5 hộp khẩu trang y tế trong 1 tháng. Tại thời điểm dịch COVID-19 bùng lên như đầu tháng 2 vừa qua, số lượng khẩu trang tiêu thụ gấp 10 lần – đạt 50 hộp/tháng. Nhận thấy được sự biến động đó, để đảm bảo nguồn cung và tăng thêm lợi nhuận, hiệu thuốc quyết định đặt 60 hộp từ nhà bán sỉ. Việc đơn hàng tăng lên đột biến so với tháng trước khiến cho nhà bán sỉ quyết định đặt từ nhà phân phối 70 hộp/tháng. Từ nhà phân phối đến nhà sản xuất, số lượng hộp khẩu trang lại tăng lên 80 hộp/tháng. Vậy tất cả các bên đều sẽ kiếm được lợi nhuận khổng lồ từ việc này sao?

Nếu lượng bán duy trì 50 hộp/tháng, các bên tham gia đều có khả năng tăng thêm lợi nhuận cho bản thân. Tuy nhiên, đặt trường hợp dịch bệnh được khống chế và lượng mua giảm đáng kể quay về 10 hộp/tháng, khi ấy, hiệu thuốc buộc phải hoãn đơn đối với nhà bán sỉ, nhà bán sỉ lại tiếp tục hoãn đơn với nhà phân phối, rồi đến nhà sản xuất. Điều này dẫn đến tình trạng một lượng lớn hộp khẩu trang y tế sẽ bị tồn dư, chưa kể đến, số lượng hiệu thuốc có thể lớn gấp nhiều lần dẫn đến số lượng tồn kho cũng sẽ trở thành “GÁNH NẶNG KHỔNG LỒ”.

Hậu quả của hiệu ứng BULLWHIP là lượng tồn kho quá mức, dịch vụ khách hàng giảm do sản phẩm không có sẵn hoặc do tồn kho dự trữ quá lâu, kế hoạch sản xuất không ổn định và chi phí tốn kém cho các hoạt động phát sinh (như quản lý hàng tồn kho, công nhân làm việc ngoài giờ tại giai đoạn đầu khi nguồn cung tăng đột biến…). Ngoài ra, nhà sản xuất có thể phải ngừng hoạt động máy móc, cắt giảm nhân viên gây ra tình trạng thất nghiệp, nhà phân phối gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý và cuối cùng dẫn đến giá thành sản phẩm giảm.

Trong bối cảnh dịch bệnh còn diễn biến phức tạp như hiện nay, VẮC XIN COVID-19 trở thành sản phẩm nhận được nhiều sự quan tâm nhất từ các quốc gia. Câu hỏi đặt ra là, liệu hiệu ứng BULLWHIP có diễn ra hay không và các nhà sản xuất, nhà phân phối vắc xin nên làm gì để tránh một hiện tượng tiêu cực như vậy? Tiếp sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nguyên nhân nào đã gây ra hiện tượng BULLWHIP, từ đó đưa ra hướng giải quyết phù hợp.

2. Sự ra đời của “Cái roi da”

Để giải quyết vấn đề đó, ta cần hiểu nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng BULLWHIP trong chuỗi cung ứng. Từ ví dụ về nguồn cung khẩu trang nêu trên, dễ thấy nguyên nhân gây ra hiệu ứng BULLWHIP là do sự thiếu tương tác giữa các bên trong chuỗi cung ứng.

Để một chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả, cần có sự liền mạch, rõ ràng về thông tin và sự chuyển giao đúng thời điểm. Tuy nhiên, ở đây, các mắt xích trong chuỗi cung ứng phải đưa ra quyết định dựa trên những khiếm khuyết về luồng thông tin. Cụ thể, nhà bán sỉ chỉ dựa vào thông tin trên đơn đặt hàng của hiệu thuốc, nhà phân phối lại chỉ dựa trên đơn đặt của nhà bán sỉ…,mà không có sự quan sát và đánh giá tổng quát về nhu cầu và biến động của thị trường. Chưa kể đến, sự chậm trễ trong quá trình thông tin cũng là yếu tố gây nên hiệu ứng BULLWHIP.

3. Làm gì để hạn chế ảnh hưởng của Bullwhip effect?

Từ những ví dụ nêu trên, dễ dàng nhận ra hiệu ứng BULLWHIP chính là mối đe dọa đầy nguy hiểm đối với quá trình vận hành của thị trường. Vì thế hạn chế tối đa những ảnh hưởng của hiệu ứng này là điều tất yếu. Sau đây chính là một số giải pháp được biết đến nhiều nhất hiện nay.

3.1. Ứng dụng mô hình CPFR trong chuỗi cung ứng

Có thể thấy, thông tin và quá trình chuyển giao thông tin chính là nút thắt lớn nhất trong việc hạn chế hiệu ứng BULLWHIP. Theo đó, các mắt xích trong chuỗi cung ứng cần phối hợp với nhau để lập ra một kế hoạch có sự thống nhất giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng như sản xuất, phân phối vật tư, nguyên liệu,… Nói cách khác, các bên cần cùng nhau hoạch định và phát triển theo mô hình CPFR.

Trong đó, CPFR bao gồm 3 thành phần chính là Collaborative Planning, Forecasting và Replenishment, trong đó mỗi thành phần ứng với các hoạt động sau:

– Hợp tác hoạch định (Collaborative Planning): các bên tham gia sẽ xây dựng kế hoạch liên kết làm việc với nhau như thế nào để đáp ứng đủ lượng cung – cầu.

– Dự báo (Forecasting): dự báo doanh số bán hàng chung, ước tính nhu cầu trung bình của thị trường và các biến động xoay quanh nó ứng với từng yếu tố nảy sinh trên thị trường. Tại khâu dự báo, việc tiếp nhận thông tin từ nhiều dữ liệu sẽ giúp các bên có hiệu chỉnh nhiều về số trung bình và độ lệch chuẩn trong nhu cầu.

– Hợp tác bổ sung (Replenishment): Thực hiện dự báo các đơn hàng cho tất cả các mắt xích tham gia và đề ra đơn hàng phù hợp để đáp ứng nhu cầu khách hàng.

3.2. Quản lý về thời gian đáp ứng đơn hàng

Thời gian đặt hàng càng dài thì một sự thay đổi nhỏ trong việc ước tính độ biến động của nhu cầu cũng có thể tạo ra những thay đổi đáng kể trong tồn kho, gây ảnh hưởng đến sự tiếp diễn của chuỗi cung ứng cũng như quá trình đặt hàng lại, dẫn đến sự thay đổi lớn trong số lượng đặt hàng.

3.3. Đảm bảo sự bình ổn về giá cả và giảm các đơn hàng lạm phát

Trong ví dụ về hiệu thuốc và mặt hàng khẩu trang nêu trên, nhận thấy tiềm năng trong việc bán ra với mức giá cao hơn so với trước, một số hiệu thuốc sẽ thực hiện việc lưu trữ tồn kho khẩu trang tại thời điểm giá thấp để sau đó bán ra với mức giá cao hơn. Không chỉ vậy, các đơn hàng lạm phát do các nhà bán lẻ đặt hàng trong thời kỳ thiếu hụt thường có khuynh hướng làm thổi phồng hiệu ứng Bullwhip. Tuy nhiên sau khi giai đoạn thiếu hụt kết thúc, các nhà bán lẻ sẽ trở lại các đơn hàng chuẩn, điều này dẫn đến sự méo mó và những sai lệch trong dự báo nhu cầu.

Vì vậy, cần đảm bảo bình ổn về giá cả thị trường nhất là tại thời điểm diễn ra hoạt động xúc tiến mua. Đặc biệt là trong các giai đoạn doanh nghiệp thực hiện chương trình cổ động và chiết khấu theo số lượng ở một vài thời điểm mấu chốt trong năm. Đồng thời giảm tình trạng xuất hiện các đơn hàng lạm phát trên thị trường.

Nội dung: Nhật Quyên 

3 phương pháp cải tiến trong quy trình quản lý chuỗi cung ứng

0

Chuỗi cung ứng được hiểu ngắn gọn là sự tích hợp các quy trình từ cung ứng, sản xuất, phân phối cho đến hoàn thành đơn hàng và giao nhận. Lý thuyết đó đều đã được nằm lòng bởi bất cứ doanh nghiệp nào ở thời điểm hiện tại. Sự khác nhau chính là đến từ cách áp dụng và cải tiến các phương thức sao cho phù hợp với đặc tính của doanh nghiệp và đem lại hiệu quả trong quản lý chuỗi cung ứng. Hãy cùng LSC điểm qua một số phương pháp cải tiến quy trình trong quản lý chuỗi cung ứng nhé !

1. Phương pháp sản xuất tinh gọn

Là phương pháp quản lý chuỗi cung ứng bằng cách thiết lập các quy trình logic, có kỷ luật để nhận diện và loại bỏ các hoạt động không làm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để phương pháp sản xuất tinh gọn phát huy hiệu quả, tất cả mọi người trong công ty phải phối hợp cùng nhau loại bỏ ba yếu tố gồm sự lãng phí, sự không nhất quán trong hoạt động sản xuất, sự quá tải về con người và trang thiết bị. Ba yếu tố này xuất phát từ sản xuất và gia công dư thừa, hàng tồn kho, làm lại/ sửa sai, chờ đợi, sự vận chuyển và thao tác không cần thiết.

Những công cụ hỗ trợ thực hiện sản xuất tinh gọn được sử dụng linh hoạt tại từng doanh nghiệp phụ thuộc vào điều kiện đặc thù của từng nơi như: Kaizen, Kanban, 5S, Sơ đồ chuỗi giá trị (VSM) và phương pháp tập trung vào quy trình PDCA (Plan-Do-Check-Act).

2. Six Sigma

Là một hệ phương pháp cải tiến quy trình kinh doanh và quản lý chất lượng bằng phương pháp thống kê để đếm số lỗi phát sinh trong một quá trình, sau đó tìm ra cách để khắc phục, đưa nó tới càng gần mức “không lỗi” càng tốt. Chỉ khi nào một quy trình không tồn tại hơn 3,4 lỗi (hay khuyết tật) trên mỗi một triệu cơ hội (sản phẩm), nó mới đạt được mức tiêu chuẩn của Six Sigma. Để áp dụng phương pháp Six Sigma, doanh nghiệp cần tuân thủ theo năm bước sau: xác định, đo lường, phân tích, cải tiến và kiểm soát.

Năm 2000, Công ty Ford Việt Nam đã bắt đầu triển khai Six Sigma trong 200 dự án để cải tiến quy trình và kết quả là vào năm 2007, Ford đã tiết kiệm được 1,2 triệu USD và chỉ số hài lòng của khách hàng đạt mức trên 90%/ năm. Một trong các dự án Six Sigma thành công nhất của Ford Việt Nam là giảm lượng container chở linh kiện nhập khẩu vào năm 2005. Xác định được nguyên nhân gây hao phí là do các thùng chứa linh kiện xe hơi trong các container còn rất nhiều khoảng trống, Ford đã sắp xếp và tận dụng tối đa không gian còn trống theo phương pháp cải tiến Six Sigma.

3. Lý thuyết về điểm hạn chế (Theory of Constraints – TOC)

Là mô hình được sử dụng để tối đa hóa công suất của một dây chuyền sản xuất bằng việc xóa bỏ hạn chế lớn nhất (điểm hạn chế), khi đó công suất của toàn bộ hệ thống sẽ được tăng lên. Bản chất của TOC là ở chỗ công suất của bất cứ dây chuyền sản xuất nào cũng bị quyết định bởi mắt xích yếu nhất trong dây chuyền đó. Sau khi tìm ra được điểm hạn chế, thường sẽ có hai lựa chọn: 

Một là, kìm hãm tốc độ của các bước khác sao cho chúng vận hành cùng tốc độ như bước hạn chế. Điều này giúp ngăn cản tình trạng hàng tồn kho chất đống giữa các bước trong quy trình.

Hai là, cải tiến điểm hạn chế để toàn bộ hệ thống vận hành nhanh hơn và nó sẽ đạt tới ngưỡng không còn là bước chậm chạp nhất trong quy trình nữa và chu kỳ cải tiến sẽ trở lại từ đầu. 

Nội dung: Công Quỳnh

Covid 19 và chuỗi cung ứng: Giải pháp giảm thiểu tác động tối quan trọng

0

“Nhỏ mà có võ”, có lẽ là lời bình luận dành cho virus Corona, khi đại dịch Covid-19 đã làm lộ ra những rủi ro và điểm yếu trong việc cung ứng các nhu yếu phẩm và thiết bị phục vụ đời sống và sản xuất, chỉ ra sự phụ thuộc của chuỗi vào các trung tâm sản xuất và các thị trường lớn như Trung Quốc.

Chuỗi cung ứng là một hệ thống gồm nhiều mắt xích liên kết chặt chẽ qua lại với nhau, về cơ bản nó vận hành xoay quanh 3 dòng: vật liệu (material), thông tin (information) và tiền tệ (finance). Bản chất của chuỗi cung ứng là sự liền mạch và hợp tác (collaboration), nên khi có một tác động từ bên ngoài gây ảnh hưởng, làm gián đoạn đến một điểm trong một giai đoạn nào đó, thì cả chuỗi cung ứng sẽ bị tác động theo. Những sự bất ổn ấy luôn xảy ra hằng ngày, khiến rất khó để duy trì một hệ thống cố định mà vận hành trơn tru được.

Chính vì vậy, đã có rất nhiều công ty ngày càng đổi mới và vận hành theo nhiều phương pháp, nổi bật nhất là sự linh hoạt và co dãn của chuỗi cung ứng để đối phó với tình trạng bất ổn này. Năm 2020 vừa qua quả là một năm đầy khó khăn trên khắp thế giới, Covid-19 là một chủng dịch khó lường có nhiều biến thể và diễn ra ở một phạm vi rộng, do đó rất nhiều giải pháp được đưa ra nhằm điều chỉnh chuỗi cung ứng trở nên bền bỉ hơn.

Tuy nhiên, để tạo nên một kế hoạch mang tính xây dựng và những giải pháp mang tính triệt để, chúng ta cần phải suy xét và cân nhắc những vấn đề cốt lõi và những ảnh hưởng của Covid-19 lên chuỗi cung ứng như thế nào trong hơn 1 năm qua:

  • Vật liệu (Material): Vấn đề đến từ sự thiếu hụt nguồn cung nguyên vật liệu cũng như hàng hóa được cung ứng từ các khu vực chịu tác động bởi nguồn dịch. Ví dụ như trong năm 2020, có rất nhiều công ty sản xuất giày dép Việt Nam bị gián đoạn sản xuất vì thiếu nguồn cung của vật liệu từ Trung Quốc, mà cụ thể hơn là do sự phong tỏa của thành phố Vũ Hán.
  • Nhân công (Labor): Câu chuyện nhân sự là một bài toán nan giải, khi Covid-19 đã gián một đòn nặng nề lên toàn bộ chuỗi cung ứng, gây tác động không hề nhỏ đến công việc làm ăn của các công ty logistics. Các quyết định cắt giảm biên chế đã được đưa ra, khiến những nhân viên còn lại phải làm thay phần việc của những người đã nghỉ, bên cạnh một số bất tiện khi phải làm việc ở nhà (work from home).
    Ngoài ra, việc tuân thủ quy định phòng chống dịch bệnh, thực hiện cách ly 14 – 21 ngày cũng đã ảnh hưởng đến một số quy trình trong chuỗi, ví dụ như tình trạng thiếu container rỗng. Theo quy định, các thủy thủ phải cách ly 14 ngày sau khi nhập cảnh thì mới được phép làm thủ tục để lấy container rỗng và tiếp tục hành trình, dẫn đến vòng quay cũng container ngày càng dài và trì trệ hơn.
  • Tìm hàng (Sourcing): Đi lại ngày càng bị thắt chặt, dẫn đến nguồn hàng bị hạn chế hơn. 
  • Logistics: Đại dịch Covid-19 diễn ra bất chợt, chúng ta đã chứng kiến một giai đoạn dài các hoạt động kho vận cũng như vận chuyển bị đóng băng bởi sự thiếu kinh nghiệm để ứng phó trong những tình huống như thế này. Mạng lưới cung ứng và các trung tâm logistics hay gặp phải tình trạng thiếu chỗ chứa hay không có hàng về, và việc tìm những tuyến đường hay phương tiện vận chuyển dự phòng cũng trở nên khó khăn.
  • Người tiêu dùng (Consumer): Người tiêu dùng trở nên thận trọng hơn và dần ít ra ngoài hơn để mua sắm, và mua sắm trực tuyến có xu hướng là lựa chọn đầu tiên của họ. Điều này dẫn tới nhu cầu bị giảm đột ngột, rất nhiều các doanh nghiệp đã phải chật vật để sinh tồn trong thời kì khó khăn đó, thậm chí là phải nộp đơn xin phá sản (Forever 21, Century 21,…)

Sau khi nhìn nhận được những điểm thắt mà Covid có thể gây ra cho sự gián đoạn của chuỗi cung ứng, chúng ta hãy cùng tiếp tục suy xét thêm đâu là các biện pháp và hành động tối ưu nhất có thể giúp chuỗi cung ứng linh hoạt hơn?

  1. Giải pháp ngắn hạn
    • Xây dựng các chương trình giám sát và ứng phó với rủi ro cao đối với sự gián đoạn chuỗi cung ứng cho các quốc gia bị ảnh hưởng bởi Covid-19, và khả năng phơi nhiễm nguồn cung cấp từ cấp 1 (tier-1) trở xuống.
    • Xây dựng chương trình và ưu tiên nguồn cung để có được bức tranh đầy đủ một cách nhanh chóng và kịp thời.
    • Đảm bảo rằng tất cả hàng tồn kho nằm trong tầm với và bên ngoài các khu vực bị ảnh hưởng và trung tâm logistics. Ngoài ra, các chuỗi cung ứng nên hợp tác với bộ phận nhân sự và pháp chế để đánh giá tình hình tài chính và đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
  2. Giải pháp trung hạn
    • Trọng tâm lúc này là cân bằng cung – cầu cũng như xây dựng nguồn cung dự trù. Đánh giá các cơ hội và rủi ro để đa dạng hóa hệ sinh thái nhà cung cấp của công ty.
  3. Giải pháp dài hạn
    • Một khi các tác động ban đầu của cuộc khủng hoảng được giảm thiểu, tiếp tục dự đoán các trường hợp tương lai. Đây là thời điểm để đánh giá lại hoặc phát triển các nguồn thay thế và đa dạng hóa chuỗi giá trị.
    • Giải quyết và tập trung các nguồn cung cấp chiến lược và rủi ro cao so với rủi ro chấp nhận đề ra từ ban đầu – ví dụ như nguồn thay thế, tuyến đường, hàng tồn kho và dự trữ tiền mặt – khi chúng không đủ để giảm thiểu bất kỳ sự gián đoạn lớn nào.

    Nguồn tham khảo: Gartner

UNILEVER FUTURE LEADERS PROGRAM 2021 CHÍNH THỨC MỞ ĐƠN ỨNG TUYỂN

Bước ra thế giới đầy biến động và thử thách, bạn đã trang bị cho mình những gì để sẵn sàng ứng biến và phát triển trong mọi hoàn cảnh?

Hơn cả một chương trình tuyển dụng dành cho sinh viên mới tốt nghiệp, 22 năm nay Unilever Future Leader Programme (UFLP) luôn là bệ phóng hàng đầu cho các bạn trẻ #sẵn-sàng-cho-tương-lai (#future-fit).

Bạn đã sẵn sàng bước trên “con đường tắt” để trở thành Nhà Lãnh Đạo Tương Lai tại Nơi Làm Việc Tốt Nhất Châu Á?

GIA NHẬP THẾ HỆ THỨ 23 CỦA UFLP NGAY HÔM NAY NẾU BẠN LÀ?

  • Sinh viên tốt nghiệp hệ Cử Nhân/ Thạc Sĩ trong năm 2020 hoặc 2021, mang quốc tịch Việt Nam, có dưới 2 năm kinh nghiệm
  • Điểm trung bình tích lũy từ 7.0/10.0 hoặc tương đương
  • Có khả năng phân tích, tư duy phản biện và sáng tạo
  • Có kỹ năng làm độc lập và làm việc nhóm tốt; Kinh nghiệm lãnh đạo trong câu lạc bộ, đội, nhóm là một lợi thế

 6 PHÒNG BAN CHỜ ĐÓN CÁC BẠN TRẺ TÀI NĂNG

  • Customer Development (Phát Triển Khách Hàng)
  • Marketing
  • Supply Chain Manufacturing (Bộ phận Chuỗi Cung Ứng – Khối Sản xuất): dành cho sinh viên kỹ thuật
  • Supply Chain Non-Manufacturing (Bộ phận Chuỗi Cung Ứng)
  • Finance
  • Human Resources

 CHƯƠNG TRÌNH DANH GIÁ VỚI THỬ THÁCH “TRIỆU ĐÔ”

  • Lộ trình huấn luyện chuyên sâu 3 năm chuẩn quốc tế, được thiết kế đặc biệt và cá nhân hóa với những thử thách mang tính chiến lược. Trọng tâm của chương trình không chỉ là phát triển sự nghiệp, mà còn là giúp bạn trở thành một người toàn diện hơn.
  • Trải nghiệm đa dạng từ đó nâng cao năng lực chuyên môn và tố chất lãnh đạo
  • Sự nghiệp quốc tế với cơ hội tiếp xúc với kiến thức và mạng lưới của Unilever tại khu vực và toàn cầu

 QUY TRÌNH ỨNG TUYỂN UNILEVER FUTURE LEADERS PROGRAM 2021

? Vòng 1: Online Application – Hoàn thành hồ sơ ứng tuyển tại http://bit.ly/UFLP2021registration – trước 23:59, Chủ nhật, 28/2/2020.

? Vòng 2: Online Assessment – Kiểm tra trực tuyến (Tháng 2 & 3)

? Vòng 3: Initial Interview – Phỏng vấn sơ bộ (Tháng 3)

? Vòng 4: Discover U Day – Đánh giá toàn diện (Tháng 4)

Thời gian bắt đầu làm việc: Tháng 5/2021

*Lưu ý: Mỗi ứng viên chỉ được Ứng tuyển 01 lần.

Đừng quên bật chế độ “SEE FIRST” tại Fanpage Unilever Careers để theo dõi những chuỗi Webinars đặc biệt cho từng phòng ban, dành riêng cho các bạn đã Hoàn thành hồ sơ ứng tuyển tại Vòng 1 nhé!

Xem thêm chi tiết chương trình tại đây: http://bit.ly/UFLP2021view

__________________________

? UFLP 2021 ? FUTURE-FIT YOUR CAREERS, TODAY!

? Hạn chót ứng tuyển: 23:59, Chủ nhật, 28/2/2020 tại http://bit.ly/UFLP2021registration

Facebook: www.facebook.com/UnileverCareersVietnam

Email: UVN.EmployerBranding@unilever.com

SCHNEIDER ELECTRIC INTERNSHIP PROGRAM CHÍNH THỨC KHỞI ĐỘNG!

Schneider Electric Internship Program là chương trình thực tập toàn thời gian kéo dài 6 tháng dành riêng cho các bạn sinh viên năm cuối hoặc dưới 2 năm kinh nghiệm.

Bạn đã sẵn sàng thử thách bản thân với 4 vòng thi tuyển chọn và:

– Khởi đầu sự nghiệp tại #Top 100 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam do Anphabe bình chọn năm 2020 và một trong Những nhà tuyển dụng hàng đầu năm 2020 do sinh viên bình chọn.

– Làm việc tại một môi trường đa dạng, tôn trọng sự khác biệt và sẵn sàng trao cơ hội cho các bạn trẻ thể hiện và chứng minh năng lực.

– Được đào tạo và trang bị tốt nhất để trở thành những nhà lãnh đạo tiềm năng trong tương lai

Đừng bỏ lỡ cơ hội và ứng tuyển ngay trước ngày 15/01/2021 tại:

– Industrial Automation Intern: http://spr.ly/6180HRtIg
– Business Development Intern: http://spr.ly/6181HRtI9
– Human Resource (Business Partner) Intern: http://spr.ly/6182HRtIi
– Offer Marketing (Digital Energy) Intern: http://spr.ly/6183HRtIc
– Order Management Intern: http://spr.ly/6184HRtIY
– Service Sales Intern: http://spr.ly/6185HRtIl
– Marketing Communication Intern: http://spr.ly/6186HRtIm
– Digital Customer Experience Intern: http://spr.ly/6187HRtIW
– Finance & Accounting Intern: http://spr.ly/6188HRtIo

Còn chần chờ gì nữa, apply ngay thôi nào!

Kỷ lục mới – Xuất siêu Việt Nam đạt 14,46 tỷ USD

0

Tính đến hết ngày 15/9, cán cân thương mại của Việt Nam đã thặng dư 14,46 tỷ USD – đây là mức xuất siêu kỷ lục của Việt Nam từ trước đến nay và dự báo sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.

Đạt 14,46 tỷ USD, xuất siêu Việt Nam đạt kỷ lục

Thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 9/2020 (từ ngày 01/9 đến ngày 15/9) đạt 24,301 tỷ USD, giảm 8,9% so với kỳ 2 tháng 8/2020. Lũy kế đến hết ngày 15/9, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 361,51 tỷ USD. 

Cũng trong kỳ này, cán cân thương mại của Việt Nam tiếp tục thặng dư 973 triệu USD, nâng mức thặng dư luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 15/9 đạt 14,46 tỷ USD. Đây là mức thặng dư kỷ lục của Việt Nam.

Cán cân thương mại tại Việt Nam trong hai năm 2019 và 2020

Về xuất khẩu, Việt Nam đạt giá trị xuất khẩu 12,63 tỷ USD, giảm 15,8% so với kỳ trước. Trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt giá trị xuất khẩu 7,83 tỷ USD.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 9 đạt 11,664 tỷ USD, tăng 0,1% so với kỳ 2 tháng 8. Trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt giá trị nhập khẩu 6,64 tỷ USD.

Trước đó, trong tháng 8, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 50,4 tỷ USD, trong đó, tổng trị giá xuất khẩu đạt 27,7 tỷ USD, tăng 11,4% và tổng trị giá nhập khẩu đạt 22,7 tỷ USD, tăng 2,8% so với tháng trước. Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm đạt 336,92 tỷ USD; trong đó tổng trị giá xuất khẩu đạt 175,36 tỷ USD, tăng 2,3% và tổng trị giá nhập khẩu đạt 161,9 tỷ USD, giảm 2,4% so với cùng kỳ 2019. Cán cân thương mại cả nước đã xuất siêu gần 13,5 tỷ USD sau 8 tháng, gấp gần 2,5 lần so với số thặng dư cùng kỳ năm 2019 (5,47 tỷ USD).

Cũng theo tổng cục Hải quan, Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất ở các mặt hàng: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (3,1 tỷ USD); Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (1,65 tỷ USD); Điện thoại các loại và linh kiện (898 triệu USD); Vải các loại (453 triệu USD); và chất dẻo (341 triệu USD).

Hiệp định EVFTA bắt đầu có hiệu lực

Ngoài ra, theo Bộ Công Thương, Hiệp định EVFTA có hiệu lực đã tạo cơ hội lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam được cắt giảm thuế cao như như: Nông sản, thủy sản, đồ gỗ, dệt may, da giày, điện tử…

Theo Bộ Công Thương